CHÂN THIỆN MỸ MẾN CHÀO CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM

Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

Tái sinh bởi Thần Khí

PVL (28/4/2014) – Tin Mừng Ga 3,1-8 được Giáo Hội công bố hôm nay, Thứ Hai tuần II Phục Sinh với ý lực:
"Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí.” (Ga 3,5-5)
Ai đã từng trải nghiệm sự đổi đời từ đời sống tự nhiên đến đời sống siêu nhiên như Thánh Phao-lô ngã ngựa trên đường Đa-mát thì có lẽ sẽ hiểu được lời của Chúa Giê-su nói trên đây. Nhân đây, Chúa Giê-su cũng đề cao vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời sống tâm linh tôn giáo của mỗi người khi họ chịu phép thanh tẩy, tin nhận Chúa Giê-su Phục Sinh, tin nhận Thiên Chúa là Chúa của họ. Sự hoán cải tận căn, mở lòng đón nhận ơn thiêng phải chăng cũng là sinh lại bởi Thần Khí như trường hợp của người con hoang đàng trở về cùng Cha.

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã ban ơn tái sinh cho con qua bí tích rửa tội, xin giúp con ý thức ân sủng Chúa đã trao ban cho con, giúp con có được đời sống mới trong đức tin, hầu đón nhận ơn cứu độ Chúa thương ban khi con còn lữ hành trần gian trên đường về quê trời. Xin giúp  con sống xứng đáng là Ki-tô hữu đã lãnh nhận phép rửa, làm chứng nhân cho Chúa giữa đời thường . Amen.

Thánh Thần giúp các môn đệ làm chứng cho Đức Kitô.

Thứ Hai Tuần II PS

 
Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

Thứ Hai Tuần II PS

Bài đọc: Acts 4:23-31; Jn 3:1-8.

1/ Bài đọc I23 Được thả về, hai ông đến với các anh em và thuật lại mọi điều các thượng tế và kỳ mục đã nói với hai ông.
24 Nghe vậy, họ đồng tâm nhất trí cất tiếng lên cùng Thiên Chúa: "Lạy Chúa, Ngài là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó;
25 Ngài là Đấng đã nhờ Thánh Thần, dùng miệng tổ phụ chúng con là Đa-vít, tôi trung của Ngài, mà phán: Sao chư dân lại ồn ào náo động, sao vạn quốc dám bày kế viển vông?
26 Vua chúa trần gian cùng nổi dậy, vương hầu khanh tướng rập mưu đồ, chống lại Đức Chúa, chống lại Đấng Người đã xức dầu phong vương.
27 "Đúng vậy, Hê-rô-đê, Phong-xi-ô Phi-la-tô, cùng với chư dân và dân Ít-ra-en đã toa rập trong thành này, chống lại tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giê-su, Đấng Ngài đã xức dầu.
28 Như thế họ đã thực hiện tất cả những gì quyền năng và ý muốn của Ngài đã định trước.
29 Giờ đây, lạy Chúa, xin để ý đến những lời ngăm đe của họ, và cho các tôi tớ Ngài đây được nói lời Ngài với tất cả sự mạnh dạn.
30 Xin giơ tay chữa lành, và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, nhân danh tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giê-su."
31 Họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa.

2/ Phúc Âm1 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do-thái.
2 Ông đến gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông nói với Người: "Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy."
3 Đức Giê-su trả lời: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên."
4 Ông Ni-cô-đê-mô thưa: "Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao? "
5 Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.
6 Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí.
7 Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.
8 Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy."


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thánh Thần giúp các môn đệ làm chứng cho Đức Kitô.

Một bằng chứng hùng hồn của việc Chúa sống lại là chúng ta chỉ cần quan sát sự thay đổi nơi các tông đồ: Điều gì đã giúp cho các tông đồ, từ những người nhát đảm sợ sệt bỏ trốn Chúa trong Cuộc Thương Khó của Ngài, bây giờ trở thành những người can đảm làm chứng cho Chúa giữa những đe dọa và cực hình? Đó là sự hiện diện của Thánh Thần như Chúa Giêsu đã hứa với các ông trong đêm giã biệt: “Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Jn 14:26).
Các Bài Đọc hôm nay nói lên vai trò quan trọng của Thánh Thần trong đời sống của các tín hữu. Trong Bài Đọc I, khi các tông đồ cầu nguyện và xin ơn để có thể tiếp tục sứ vụ Chúa Giêsu đã trao phó, Thánh Thần hiện xuống trên các ông và quyền năng của Ngài bao trùm các ông, giúp các ông có can đảm và mạnh bạo làm chứng cho Chúa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nói cho Nicodemus biết: không ai có thể đạt tới Nước Thiên Chúa nếu không được tái sinh bởi nước và Thánh Thần.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa.

1.1/ Con người chỉ làm theo kế họach Thiên Chúa đã hoạch định: Phêrô và Gioan được tha về sau khi đã làm chứng cho Chúa Giêsu trước mặt THĐ và dân chúng. Hai ông đến với các anh em và thuật lại mọi điều các thượng tế và kỳ mục đã nói với hai ông.
Nghe vậy, họ đồng tâm nhất trí cất tiếng lên cùng Thiên Chúa: "Lạy Chúa, Ngài là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó; Ngài là Đấng đã nhờ Thánh Thần, dùng miệng tổ phụ chúng con là David, tôi trung của Ngài, mà phán: “Sao chư dân lại ồn ào náo động, sao vạn quốc dám bày kế viển vông? Vua chúa trần gian cùng nổi dậy, vương hầu khanh tướng rập mưu đồ, chống lại Đức Chúa, chống lại Đấng Người đã xức dầu phong vương.” (Psa 2).”
Các tông đồ hiểu lời Thánh Vịnh 2 này nói trước về Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu: "Đúng vậy, Herode, Pontius Pilate, cùng với chư dân và dân Israel đã toa rập trong thành này, chống lại tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giêsu, Đấng Ngài đã xức dầu.” Như thế họ đã thực hiện tất cả những gì do ý muốn của Thiên Chúa đã hoạch định từ trước.

1.2/ Các tông đồ được ban Thánh Thần để làm chứng cho Đức Kitô: Các tông đồ xin những sức mạnh cần thiết để các ngài có thể tiếp tục sứ vụ rao giảng của Đức Kitô: ơn can đảm, ơn chữa lành, uy quyền làm phép lạ nhân danh Chúa Giêsu. Họ cầu nguyện: “Giờ đây, lạy Chúa, xin để ý đến những lời ngăm đe của họ, và cho các tôi tớ Ngài đây được nói lời Ngài với tất cả sự mạnh dạn. Xin giơ tay chữa lành, và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, nhân danh tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giêsu."
Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ và thúc đẩy các ông làm chứng cho Chúa Giêsu. “Khi họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa.” Giờ đây, không chỉ có Phêrô và Gioan can đảm làm chứng cho Chúa Giêsu, mà tất cả các tông đồ. Sau khi đã lãnh nhận Thánh Thần, các ông có can đảm để đi vào các ngả đường làm chứng nhân cho Chúa Giêsu.

2/ Phúc Âm: Phải sinh ra một lần nữa bởi Nước và Thần Khí.

2.1/ Không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa từ trên.
(1) Tiểu sử Nicodemus: “Trong nhóm Pharisees, có một người tên là Nicodemus, một thủ lãnh của người Do-thái.” Ông là một thành viên của Thượng Hội Đồng, và đã lên tiếng bênh vực Chúa Giêsu cách gián tiếp khi THĐ âm mưu bắt Chúa Giêsu (Jn 7:50-51). Ông cũng là người đã cùng ông Joseph Arimathea tháo đanh và táng xác Chúa trong hang đá (Jn 19:38-39). Tại sao ông đến với Chúa Giêsu ban đêm? Có người cho rằng vì ông sợ người khác thấy. Kẻ khác cho tại vì truyền thống Do-thái có thói quen học Kinh Thánh ban đêm.
Ông để ý quan sát và nhận xét về Chúa Giêsu không giống như các người Pharisees khác: “Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy.” Lời nhận xét của ông giống như lời nhận xét của người mù từ lúc mới sinh trong Jn 9: Nếu Chúa Giêsu không đến từ Thiên Chúa, Ngài không thể nào chữa lành bệnh tật cho anh. Ông phải là người thành tâm thiện ý đi tìm sự thật; nhưng chưa có Thánh Thần để giúp ông hiểu lời Chúa nói và can đảm tin vào Chúa. Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu thảo luận với ông về sự hiện diện cần thiết của Thánh Thần. Có lẽ ông đã tin vào Chúa sau khi táng xác Chúa.
(2) Điều kiện để vào Nước Thiên Chúa: Đức Giêsu nói với ông: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên." Ông Nicodemus thưa: "Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?"
Trong tiếng Hy-lạp, trạng từ "anothen" có thể mang một trong 3 nghĩa sau: (1) từ trên cao; (2) một lần nữa; (3) từ ban đầu (Lk 1.3). Nicodemus hiểu lời Chúa Giêsu nói theo nghĩa thứ hai.
Theo W. Barclay, Chúa Giêsu có thể ám chỉ cả 3 nghĩa: “Để có thể tái sinh hoàn toàn mới, một người cần phải trải qua một sự thay đổi lớn mà nó gần như là một sự sinh ra mới (nghĩa 2); đó là cần phải có những gì xảy ra cho linh hồn mà nó chỉ có thể mô tả là được sinh ra bắt đầu lại từ đầu (nghĩa 3); và tòan thể tiến trình này không phải do công lao con người, vì nó đến từ ơn thánh và uy quyền của Thiên Chúa (nghĩa 1).”

2.2/ Chúa Giêsu cắt nghĩa cho Nicodemus:
(1) Sinh ra bởi Nước và Thánh Thần: Đức Giêsu đáp: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.” Các tông đồ phân biệt 2 phép rửa: phép rửa bằng nước của Gioan để tha tội, phép rửa ban Thánh Thần của Chúa Giêsu.
(2) Việc làm của Thánh Thần: Chúa Giêsu so sánh Thánh Thần với gió: “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.”
Trong tiếng Hy-lạp và Do-thái, họ chỉ dùng cùng một tiếng để chỉ “gió” và “thần khí:”ruah trong tiếng Do-thái và pneuma trong tiếng Hy-lạp. Con người thấy hậu quả những việc làm của Thánh Thần, tuy không bao giờ thấy Ngài. Ví dụ, khi nhìn thấy các tông đồ mạnh dạn làm chứng cho Chúa Giêsu hay nói tiếng lạ, chúng ta phải đặt câu hỏi: Ai đã biến các ông từ chỗ nhút nhát sợ sệt đến chỗ can đảm làm chứng cho Chúa Giêsu?

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Khi lãnh nhận Bí-tích Rửa Tội và Thêm Sức, chúng ta đã có Thánh Thần trong linh hồn.
- Các tín hữu phải được tái sinh bởi Thánh Thần mới có thể hiểu Lời Chúa và can đảm làm chứng nhân cho Chúa Giêsu.

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Đang truyền hình trực tiếp lễ tuyên phong hiển thánh cho Đức Gioan XXIII và Gioan Phaolô II

http://www.chuacuuthe.com/2014/04/1430-hom-nay-xem-truyen-hinh-truc-tiep-le-tuyen-phong-hien-thanh-cho-duc-guoan-xxiii-va-gioan-phaolo-ii/

Tiểu sử hai vị Thánh Giáo Hoàng qua chùm ảnh


Nguồn; http://www.chuacuuthe.com/2014/04/tieu-su-duc-gioan-xxiii-qua-anh/

VRNs (27.4.2014) – Sài Gòn – Tổng hợp từ  The Catholic Herald Facebook, VRNs giới thiệu với đọc giả tiểu sử hai vị Giáo hoàng mà hôm nay được Đức Phanxicô tuyên phong hiển thánh trong thánh lễ tại quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Gioan XXIII:


10177332_10202035389834703_662178305532220586_n
1. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tên khai sinh là Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881. Ngài là người con thứ tư trong gia đình có mười bốn đứa con. Cha mẹ ngài là những tá điền sống trong một ngôi làng ở Lombardy, Italia.


10250270_10202035404795077_4473759709901702313_n
 2. Sau khi hoàn tất tốt đẹp năm thứ hai của thần học vào tháng Bảy năm 1900, thì vào tháng Giêng năm sau, thầy được gửi về Roma vào chủng viện Apollinare, nơi có một số học bổng cho hàng giáo sĩ thuộc giáo phận Bergamo. Tuy phải thi hành nghĩa vụ quân sự tại Bergamo từ ngày 30 Tháng 11 1901, việc huấn luyện chủng sinh cũng đặc biệt mang lại kết quả tốt đẹp. Ảnh chụp năm 1901, khi đó ngài 20 tuổi. Ảnh© Corbis. All Rights Reserved.

10251909_10202035405915105_176276278800188748_n
3. Vào năm 1925, với sự bổ nhiệm làm Đại diện Tòa Thánh tại Bulgaria, ngài đã bắt đầu giai đoạn phục vụ cho ngành ngoại giao của Tòa Thánh cho đến năm 1952. Sau lễ phong chức giám mục diễn ra tại Rome vào ngày 19 tháng 3 năm 1925, ngài khởi hành đi Bulgaria với nhiệm vụ giúp đỡ cho cộng đoàn Công giáo nhỏ bé và đang gặp nhiều khó khăn tại đó. Khởi đầu công việc và tiếp tục cả hàng chục năm, Đức cha Roncalli đã đặt nền móng cho việc thiết lập một Tông Tòa mà ngài đã được bổ nhiệm làm vị đại diện đầu tiên vào năm 1931. Ảnh chụp năm 1926, một năm sau khi ngài được thụ phong chức giám mục.

1511408_10202035406475119_5278074687766474299_n
4. Ảnh chụp vào một lúc nào đó giữa năm 1939 và năm 1958

10270537_10202035407155136_5539725823786149894_n
5. Chân phước Gioan XXIII cầu nguyện sau khi được bầu làm vị kế nhiệm thánh Phê-rô. Ở tuổi 76, ngài là vị giáo hoàng nhiều tuổi nhất được bầu trong vòng hơn 200 năm qua.

10268632_10202035408195162_151289823190751408_n
6. Chân phước Gioan XXIII trong khu vườn Vatican. Không xác định được ngày chụp
10314762_10202035409115185_2785538786871294865_n
7. Chân phước Gioan nổi tiếng về sự nồng hậu, đơn sơ, tính hài hước
10176159_10202035410155211_6123700361745554459_n
8. Thi hài chân phước Gioan XXIII trong lễ tang tháng 1/ 1963 tại quảng trường thánh Phê-rô

Đức Gioan Phaolô II:


10308143_10202035411555246_1500295170828302118_n
1. Cậu bé Karol Józef Wojtyła sinh vào ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan, cách Kraków 50 cây số. Là con út trong một gia đình có ba người con, cô chị chết từ khi còn nhỏ. Cha ông là Karol Wojtyla một cựu sĩ quan trong quân đội Habsburg và mẹ là Emilia Kaczorowka.
10154119_10202035413035283_4496784085756557492_n
2. Kỷ niệm rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi
 10168050_10202035413315290_8541692623011976133_n
 3. TGM Karol Wojtyla of Krakow nhận mũ Hồng y từ tay Đức Phao-lô VI tại nhà nguyện Sistine ngày 26/6/1967.
10155482_10202035414395317_2491137017232499278_n
4. Đức Gioan Phaolô II ra mắt các tín hữu từ ban công quảng trường thánh Phê-rô ngay sau mật nghị hồng y ngày 16/10/1978. Đức Hồng y Karol Jozef Wojtyla của Ba Lan không được biết đến nhiều trong giáo hội đã được chọn làm Giáo Hoàng. Lúc đó ngài 58 tuổi. Ảnh CNS
 10306737_10202035415675349_2776685848319335894_n
5. Đức Gioan Phao-lô II bị bắn vào ngực ngày 13/5/1981 tại quảng trường thánh Phê-rô. Thủ phạm là tay súng người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Mehmet Ali Agca, theo L’Osservatore Romano
10246482_10202035416915380_545017750999234995_n
6. Đức Gioan Phao-lô II bước ra từ một căn lều để cử hành thánh lễ tại sân vận động Parakou, Benin năm 1993. Đây là chuyến tông du thứ 104 của ngài.
 1969295_10202035417355391_7455840057798286186_n
7. Tổng thống Mỹ Bill Clinton đứng cạnh Đức Gioan Phao-lô II trong buổi chào đón tại Denver ngày 12/8/1993.
10253991_10202035418315415_6435414367337297020_n
8. Dân chúng khóc khi thi hài Đức Gioan Phao-lô II được di chuyển tới quảng trường Thánh Phê-rô ngày 4/4/2005.
Tổng hợp, Jos. Đức Trung

Ra đi loan báo Tin Mừng Chúa Phục Sinh

                      
"Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài." (Mc 16,15)

Những người đã từng sống với Chúa Giê-su ở thế gian, khi Người trỗi dậy từ cõi chết, được báo tin bởi bà Maria Mác-đa-la, nhưng họ cứng tin, kể cả hai môn đệ trên đường Emmaus báo tin, họ cũng chẳng tin. Chúa hiện ra khiển trách họ, và giao cho học sứ vụ loan báo Tin Mừng như trên.

Lạy Chúa Giê-su, tình thương của Chúa thật hải hà, Chúa kiên nhẫn với sự cứng tin của các môn đê và của con. Xin giúp con mở lòng đón nhận tình thương của Chúa, đón nhận ơn đức tin Chúa trao ban, để sẵn sàng lãnh nhận sứ vụ loan báo Tin  Mừng Chúa giao phó cho con trong thời đại hôm nay, cũng như đã trao cho các môn đệ xưa kia. Amen.

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Xin ban thêm đức tin cho con, lạy Chúa



"Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." ( Ga 20,25).
Đức tin là một trong ba món quà Chúa Giê-su Phục Sinh trao tặng cho các môn đệ (bình an, niềm vui và đức tin.)
Tô-ma tông đồ nổi tiếng vì sự cứng tin của ông, đúng ra ông có tinh thần thực nghiệm, không duy lý, không a dua theo số đông khi ông chưa rõ sự việc. Và qua ông, Chúa Phục Sinh đã dạy ông và dạy Ki-tô hữu một bài học có giá trị muôn đời:
"Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" ( Ga 20,29).

Lạy Chúa Giê-su Phục Sinh, xin ban thêm đức tin cho con giữa biển đời sóng gió hôm nay, xin giúp con vững lòng tin vào Chúa và chia sẻ đức tin cho những người xung quanh qua việc làm chứng Chúa là Đấng chiến thắng tử thần, trỗi dậy từ cõi chết để mang lại sự sống đời đời cho kẻ tin. Amen.

Niềm tin của các môn đệ vào Tin Mừng Phục Sinh

Chủ Nhật II Phục SinhA

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

Chủ Nhật II Phục Sinh, Năm A - DIVINE MERCY
 
Bài đọc: Acts 2:42-47; 1 Pet 1:3-9; Jn 20:19-31.

1/ Bài đọc I42 Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. 43 Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. 44 Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu.
46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47 Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.

2/ Bài đọc II3 Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại,
4 để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em, 5 là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết.
6 Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. 7 Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, - vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự.
8 Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang,
9 bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.

3/ Phúc Âm19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! " 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." 24Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến.
25 Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin."
26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em."
27 Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin."
28 Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! "
29 Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin! "
30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.



GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Niềm tin của các môn đệ vào Tin Mừng Phục Sinh

Nếu cuộc đời con người chấm dứt với cái chết, con người cứ việc ra sức ăn chơi, mua sắm, và hưởng thụ mọi thú vui trên đời; nhưng nếu con người biết có một cuộc sống vĩnh cửu mai sau, con người phải biết suy xét, và làm mọi cách để đạt được cuộc sống mai sau đó. Lý do đơn giản vì đó là cuộc sống mai sau là cuộc sống hạnh phúc và vững bền mãi mãi.
Tuần trước chúng ta đã được chứng kiến Tin Mừng Phục Sinh qua các bài đọc. Tuần này, các bài đọc cho chúng ta nhìn thấy những khía cạnh khác nhau của niềm tin vào sự phục sinh. Trong bài đọc I, Sách Công Vụ Tông Đồ tường thuật cho chúng ta một cộng đoàn lý tưởng, sống hạnh phúc với nhau đặt căn bản trên niềm tin của sự phục sinh. Tác giả muốn cho chúng ta thấy niềm tin vào sự phục sinh mai sau có sức mạnh biến đổi các cá nhân và cộng đoàn, để sống theo một lý tưởng tuyệt vời: để mọi sự làm của chung và sống tình hiệp thông huynh đệ trọn hảo với nhau. Trong bài đọc II, thánh Phêrô chúc tụng Thiên Chúa đã ban cho con người Đức Kitô để chịu chết thay cho con người. Nhờ Ngài, con người sẽ không phải chết đời đời; nhưng được hy vọng để đạt tới cuộc sống muôn đời. Để đạt được ơn cứu độ, đức tin con người cần được tinh luyện bằng những thử thách; nhưng đức tin sau khi được tinh luyện sẽ đem lại cho con người thành quả tuyệt vời là ơn cứu độ. Trong Phúc Âm, Thomas được Chúa Giêsu cho thấy bằng chứng để ông tin, nhưng Ngài cũng quở trách Thomas, và là lời răn dạy cho những người đòi bằng chứng trước khi tin: “Phúc cho những người không thấy mà tin.”

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Trình thuật ngắn gọn của sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta cái nhìn bên trong vào cộng đoàn Kitô hữu nguyên thủy, và hai nguyên tắc cốt yếu để xây dựng và làm cho cộng đoàn mỗi ngày mỗi lớn mạnh lên.

1.1/ Để thỏa mãn những nhu cầu tâm linh, họ làm ba việc:
(1) Chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy: Cộng đoàn đầu tiên phải ý thức rất rõ lời dạy của Chúa Giêsu, khi ma quỉ cám dỗ Ngài: “Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, nhưng còn bởi mọi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” Các Tông-đồ không chỉ nhớ những lời giảng dạy của Thiên Chúa, nhưng đức tin của các ông còn được vững mạnh qua việc chứng kiến Chúa Giêsu Phục Sinh. Nghe và thực hành những gì Chúa dạy qua các Tông-đồ sẽ giúp xây dựng đời sống cá nhân, và như một hệ quả, cũng sẽ xây dựng đời sống cộng đoàn.
(2) Siêng năng tham dự Lễ Bẻ Bánh: Vì sách Công Vụ Tông Đồ được viết rất sớm (khoảng 50 AD), nên cộng đoàn đầu tiên phải thực hành lời Chúa Giêsu dạy trong Bữa Tiệc Ly chỉ ít năm sau khi Chúa Phục Sinh: “Anh em hãy làm việc này để nhớ đến Thầy.” Lễ Bẻ Bánh cung cấp sức sống cho cá nhân, và như một hệ quả, cũng cung cấp sức sống cho cộng đoàn. Lời Chúa và Lễ Bẻ Bánh trong cộng đoàn đầu tiên là hai yếu tố chính giúp hình thành cấu trúc của Thánh Lễ sau này.
(3) Cầu nguyện không ngừng: Giống như Chúa Giêsu, cộng đoàn đầu tiên phải đương đầu với nhiều nguy hiểm từ phía Thượng Hội Đồng, các hoàng đế Rôma, và ngay cả trong nội bộ. Họ vâng lời Chúa Giêsu dạy bằng cách cầu nguyện không ngừng để khỏi sa vào những chước cám dỗ.

1.2/ Để bày tỏ tình bác ái với nhau, họ cũng làm ba việc:
(1) Sống hiệp thông với nhau: Lễ Bẻ Bánh là căn nguyên của đời sống hiệp nhất. Chúa Giêsu là tấm bánh bẻ ra cho muôn người được ăn. Khi họ ăn Mình Thánh Chúa, tất cả cùng trở nên các chi thể của thân thể Ngài. Để giữ cho thân thể Chúa được vẹn toàn, sự hiệp nhất là điều không thể thiếu. Hiệp nhất cần để gìn giữ cộng đoàn khỏi những chia rẽ đến từ bên ngoài lẫn bên trong.
(2) Họ để mọi sự làm của chung: “Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu.” Đây là lý tưởng tuyệt vời và cũng là ý định của Thiên Chúa. Ngài dựng nên mọi sự cho tất cả mọi người hưởng dùng, chứ Ngài không muốn của cải nằm trong tay một số người trong khi những người khác phải thiếu thốn đau khổ. Cộng đoàn các Kitô hữu đã được trang bị đức tin đầy đủ để sống theo lý tưởng này. Nếu cộng đoàn các Kitô hữu không sống được lý tưởng này, sẽ không có một cộng đoàn hay chính thể nào trên thế giới có thể làm chuyện đó.
(3) Họ dùng bữa với lòng đơn sơ, vui vẻ: “Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ.” Khó có thể xác định Lễ Bẻ Bánh và bữa ăn huynh đệ là một hay hai biến cố khác nhau trong cộng đoàn đầu tiên; nhưng chúng ta có thể chắc chắn là họ dùng bữa với nhau với tâm hồn đơn sơ và vui vẻ.

2/ Bài đọc II: Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động.

2.1/ Sự sống đời đời được thực hiện nhờ Đức Kitô.
(1) Đức Kitô mang cho chúng ta niềm hy vọng là cuộc sống đời đời: Tác giả Thư Phêrô I dâng lời cảm tạ lên Thiên Chúa: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại.” Trước khi Đức Kitô tới, con người không có hy vọng được hưởng cuộc sống đời đời; nhưng vì yêu thương, Chúa Cha đã cho Con Một của Ngài chịu chết để đền tội cho nhân loại. Nhờ cái chết và sự phục sinh, Ngài mang lại cuộc sống đời đời cho con người.
(2) Đặc điểm của gia tài của Đức Kitô: Tác giả nói cho chúng ta một số những chi tiết quan trọng về kho tàng là cuộc sống đời đời:
+ Không thể hư hại: Những gì thuộc về trái đất sẽ bị hư hại và hủy diệt; những gì thuộc thượng giới sẽ tồn tại muôn đời.
+ Không thể vẩn đục: Cuộc sống nơi trái đất có nhiều ô nhiễm, bệnh tật; cuộc sống trên thượng giới giải phóng con người khỏi mọi ô nhiễm của đời này.
+ Không thể tàn phai: Những gì là vật chất sẽ có ngày phai tàn; những gì thuộc thượng giới sẽ vĩnh viễn mãi mãi.
+ Được lãnh nhận trong Ngày sau hết: Con người chỉ có được kho tàng này sau khi chết.

2.2/ Phải trung thành trong mọi thử thách mới hy vọng đạt sự sống đời đời: Tác giả liệt kê một điều kiện cần thiết để đạt được kho tàng: Phải trung thành giữ vững đức tin vào Đức Kitô. Theo Tin Mừng, con người cần tin vào Đức Kitô; nhưng đức tin này sẽ bị thử thách vì những giá trị hào nhoáng của thế gian và của ma quỉ. Khi Đức Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự cho người tin. Một điều khó cho con người là họ phải tin và yêu Đức Kitô dù chưa thấy mặt Ngài; nhưng chính vì điều này, con người sẽ lãnh nhận phần thưởng của mình. Tác giả viết: “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.”

3/ Phúc Âm: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!"

3.1/ Chúa Giêsu hiện ra với các Tông đồ, lúc không có Thomas.
(1) Bình an của Chúa Giêsu: Sự lo lắng và sợ sệt làm con người bất an, như trình thuật kể tâm trạng của các tông đồ vào những ngày sau khi Chúa chết: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái.” Đang khi các ông hoảng hốt lo sợ như thế, Đức Giêsu biết rõ các ông cần điều gì nhất. Ngài đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.”
Bình an các ông có được là nhờ tin Đức Kitô sống lại. Các ông tưởng sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy Ngài nữa, và còn đang bị khủng hoảng bởi những việc mới xảy ra; nhưng giờ đây các ông vui mừng vì được thấy Ngài bằng xương bằng thịt. Hơn nữa, Ngài còn chứng minh cho các ông biết tất cả những gì Ngài đã nói với các ông là sự thật, tất cả những gì Ngài tiên báo về Cuộc Khổ Nạn của Ngài đều hiện thực. Sự hiện diện của Đức Kitô mang lại cho các ông sự bình an đích thực trong tâm hồn, vì Ngài bảo đảm cho các ông uy quyền và tình yêu của Thiên Chúa, được biểu lộ qua Đức Kitô.
(2) Lệnh được sai đi: Khi Đức Kitô chọn các tông đồ, Ngài muốn các ông tiếp tục thi hành sứ vụ Ngài đã khởi sự; nên Người lại nói với các ông: “"Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."” Sự bình an các tông đồ có được, không phải chỉ do sự hiện diện của Đức Kitô, nhưng còn do sự hiện diện và quyền năng của Thánh Thần, mà Đức Kitô đã thổi hơi vào các tông đồ. Với sự bình an và quyền năng của Thánh Thần, Ngài sai các ông đi rao giảng Tin Mừng. Trước đây, sự lo lắng và sợ hãi làm cho các ông không dám sống và làm chứng cho sự thật; nhưng giờ đây, sau khi đã cảm nhận được sự bình an qua niềm tin vào Chúa sống lại và sức mạnh của Thánh Thần; các tông đồ mở tung cửa đi vào thế giới và làm chứng cho Đức Kitô. Các ông biết nếu Đức Kitô đã chinh phục kẻ thù ghê gớm nhất là sự chết, còn gì phải sợ nữa.

3.2/ Chúa Giêsu hiện ra với các Tông đồ, có cả Thomas.
(1) Sự cứng lòng của Thomas: “Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Thomas, cũng gọi là Didymus, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Thomas đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Chúng ta đừng vội trách Thomas, vì các tông đồ khác cũng từng cứng lòng như ông khi họ chưa nhìn thấy Chúa. Tuy nhiên, cách thức “khi nhìn thấy mới tin” chỉ là một trong nhiều cách thức con người dùng để tin một điều là sự thật.
(2) Phản ứng của Thomas khi nhìn thấy Chúa: "Tám ngày sau, các môn đệ của Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Thomas ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." Rồi Người bảo ông Thomas: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin."
Ông Thomas thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" Đức Giêsu bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. " Lời thưa của Thomas không đơn thuần chỉ là niềm tin vào Chúa sống lại; nhưng là lời tuyên xưng Đức Kitô là Thầy và là Thiên Chúa của ông. Tin khi đã thấy là cách thức thấp nhất con người dùng khi muốn tin điều gì là thật; nhưng Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến những cách thức cao hơn, khi Ngài nói: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” Con người có thể tin Thiên Chúa qua các việc Ngài làm trong vũ trụ, hay qua Kinh Thánh, hay qua lời chứng của các chứng nhân. Lề Luật Do-thái chỉ đòi lời của 2 chứng nhân có thế giá. Chúng ta đã có hàng triệu chứng nhân đã làm chứng cho sự phục sinh của Thiên Chúa.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Đức tin giúp biến đổi mỗi cá nhân và cộng đoàn. Để có thể trở thành một cộng đoàn lý tưởng, mọi thành phần đều phải không ngừng thăng tiến niềm tin.
- Gian nan thử thách không thể thiếu để tôi luyện đức tin. Vì thế, chúng ta đừng sợ phải đương đầu với chúng, nhưng hãy khôn ngoan dùng sức mạnh của niềm tin để vượt thắng chúng.