Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015
Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015
Đức Me Tuyết
Kính chuyển đến một tấm hình có ý nghĩa được chụp Department of Cancer tại bệnh viện Lòng Thương Xót (Hoa Kỳ).
Tuyết rơi bao phủ tượng Đức Mẹ.
Khi tuyết tan thì còn đọng lại nơi đầu, vòng cổ và tay của Đức Mẹ.
Nhìn giống như là Đức Mẹ đang "cõng" một bệnh nhân.
Mẹ là Nắng Ấm:
P.Trung
Although the snow is beginning to melt, we wanted to share this photo sent last week by our friend Dennis Shea of Council Bluffs. The photo is of the Blessed Virgin Mary statue at Mercy Hospital in Council Bluffs. With the snow covering the statue, it almost appears that Mary is carrying a young person on her back. Interestingly, the statue rests outside the hospital's Cancer Treatment Center. God bless you all today!
Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014
Người Công giáo và kinh Mân Côi
http://www.chuacuuthe.com/2014/10/nguoi-cong-giao-va-kinh-man-coi/
VRNs (06.10.2014) – Hà
Nội - Tháng mười, tháng Mân côi, lại về với chúng ta. Lòng đạo đức của người
Ki-tô hữu lại đặc biệt hướng về Mẹ hiền – Đức Maria – với tâm tình
thảo hiếu của những người con và với niềm tự hào lớn lao vì có một người mẹ tuyệt
vời như thế. Giáo Hội trải qua suốt dòng lịch sử đã dành rất nhiều mỹ từ, nhiều
sự tôn kính cho Đức Mẹ vì cảm nhận sâu xa vị trí trổi vượt và vai trò quan trọng
của Mẹ trong tương quan với Thiên Chúa và với con người. Nơi lòng tin và đời sống
đạo của người tín hữu cũng vậy, hầu hết chúng ta đều dành một chỗ trang trọng
cho Đức Mẹ. Nghe lời Mẹ để nguyện kinh Mân côi là một sự đáp lại lời Mẹ khiến
người vui lòng, bởi người mẹ nào cũng thế chỉ muốn điều tốt đẹp cho con. Có lẽ
Mẹ biết Kinh Mân côi thực sự là một phương thế hữu hiệu giúp cho người thường
xuyên nguyện kinh này có thể đón nhận nhiều ân phúc và đặc biệt có thể đạt đến
cứu độ.
Điều đầu tiên có thể nói cầu
nguyện với kinh Mân côi là lối cầu nguyện của những người đang ở trong tình
yêu. Sự lặp lại thường gây nhàm chán. Nhưng kinh nghiệm nói với chúng ta rằng
có những điều có thể cứ lặp lại mãi mà không sợ nhàm chán, khi lặp lại điều đó
trong sự hiếu thảo và yêu mến, với tâm tình phó thác và cậy trông. Khi con cái
hiếu thảo và thương mến cha mẹ, người ta luôn tìm cách để về với cha mẹ. Về,
nhiều khi chỉ ngồi ăn bữa cơm, mà có lúc cũng chỉ để thăm hỏi một câu rồi lại
đi, … dù sao người ta vẫn thích về. Hai người yêu nhau vẫn luôn thích gặp gỡ,
dù chỉ để nhìn nhau thôi, hoặc lặp lại những câu nói yêu thương mà không bao giờ
nhàm chán. Cũng thế, khi mời gọi chúng ta cầu nguyện với kinh Mân côi, có lẽ Mẹ
muốn con cái của mình phải là những người đang có một tình yêu cháy bỏng, với
Chúa và với tha nhân, để lời cầu nguyện không phải là sự lặp lại máy móc vô cảm,
nhưng là những lời xuất tự con tim đầy lửa sốt mến.
Cầu nguyện với kinh Mân côi là cầu
nguyện dựa trên nền tảng Kinh Thánh. Có một người bạn chia sẻ : « Tại
sao những người bạn Tin Lành rất gắn bó với Kinh Thánh, thuộc Kinh thánh, trong
khi người Công giáo xem ra hờ hững và xa với Kinh thánh hơn, dường như người
công giáo ít cầu nguyện dựa trên Kinh Thánh ? » Đó là một câu hỏi mở
rất hay, nó như một lời mời gọi để chúng ta suy nghĩ về sự lưu tâm lâu nay của
chúng ta đối với Lời Chúa. Nhưng ở một góc độ khác, nếu nói người Công giáo
không cầu nguyện dựa trên Kinh Thánh lại là một phán xét vội vã. Đi vào nội
dung kinh nguyện và những thực hành phụng vụ, ta thấy hầu như tất cả đời sống
phụng tự của Giáo Hội, những cử hành phụng vụ bí tích, kinh thần vụ, á bí tích
hay những việc đạo đức cá nhân và cộng đồng như đi đàng thánh giá, ngắm thương
khó, những giờ canh thức và tĩnh nguyện … đều dựa trên nền tảng của Kinh Thánh,
nếu không nói là « đậm đặc » chất Kinh Thánh. Kinh Mân côi là một
điển hình, đó là sự kết hợp giữa Kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh
cùng với những điểm mốc quan trọng trong cuộc đời của Đức Giê-su tại thế, một
cuộc đời vốn chất chứa mọi gam màu tối sáng, mọi cung bậc thăng trầm mà một con
người có thể phải trải qua – năm sự Vui, năm sự Thương, năm sự Mừng, và mới đây
Đức cố Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã thêm vào năm sự Sáng – mà ở đó hình ảnh
Đức Mẹ luôn hiện diện với tư cách là một người mẹ, người môn đệ, người cộng sự
tận tụy và trung tín của Con Thiên Chúa. Ở đây ta bắt gặp một Đức Maria sống gắn
bó mật thiết với Chúa. Nhìn ở một phương diện nào đó, có thể nói, khi dạy chúng
ta cầu nguyện với Kinh Mân côi, chính Đức Mẹ đã dạy chúng ta phải sống và cầu
nguyện với Kinh Thánh vậy.
Cầu nguyện với kinh Mân côi, ta
được mời gọi độ lượng đáp lời Thiên Chúa và kiên định trong sự chọn lựa của
mình: lựa chọn đi theo Đức Ki-tô. Nói cách khác, chính Mẹ mời ta đi
với Mẹ hành trình Mẹ đã đi, đó là hành trình theo sát Chúa Giê-su Con của Mẹ, một
hành trình tất yếu cho tất cả những ai muốn đi theo Người. Hành trình ấy, Đấng
Phục Sinh đã xác định với hai môn đệ trên đường Emmaus : « Nào Đấng
Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của
Người sao ? » (Lc 24,26). Mẹ theo Chúa trên mọi nẻo đường, trong mọi
hoàn cảnh. Mẹ bên Chúa trước những hiểm nguy, thử thách. Dù phải chịu nhiều đau
khổ và mất mát, dù như thể bị « một lưỡi gươm đâm qua tim », Mẹ vẫn ở
đấy, ngay sau Con của mình, âm thầm nhưng vững vàng, kiên định.
Cầu nguyện với Kinh Mân côi, ta
cũng được củng cố lòng tin để có thể đứng vững trước những hiểm nguy và không bị
ngã gục trước những thử thách, bởi thấy được một kết cục có hậu trong hành trình
theo Chúa, khi suy gẫm về cuộc đời Đức Mẹ. Mầu nhiệm thứ năm của « năm sự
mừng », Mẹ được Chúa thưởng trên nước thiên đàng. Điều đó trở thành một bằng
chứng bảo đảm cho tất cả những người con biết noi gương Mẹ, kiên định trong sự
chọn lựa, vững vàng tiến bước trong đời sống đức tin và nhiệt thành dấn thân
cho sứ vụ. Phần thưởng chắc chắn đang chờ đợi họ phía cuối của cuộc hành trình.
Lạy Mẹ Maria, cảm tạ Mẹ đã ban
cho chúng con kinh Mân côi. Xin cho chúng con luôn trung thành với kinh nguyện
đơn sơ nhưng sâu sắc này, để chúng con biết bắt chước Mẹ sống kết hiệp với Chúa
Giêsu và nhờ đó chúng con cũng được hưởng phúc như Mẹ. Amen.
JB. Hồ Quang Lâm, CSsR
Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014
Ngày 22/08: ĐỨC MARIA TRINH NỮ VƯƠNG
http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20140820/27332
Ngày 1 tháng 11 năm 1954, bốn
năm sau khi tuyên bố tín điều Đức Maria hồn xác về trời, Đức thánh cha Piô XII
đã long trọng đội triều thiên lên tượng Đức trinh Nữ là "sự cứu rỗi của
dân Roma". Đây là cử chỉ tượng trưng biểu thị sự công bố về vương quyền phổ
quát của Đức Maria.
Đoàn người đông đảo đứng chật quảng
đường đền thờ thánh Phêrô, nhân danh cả hoàn cầu, dâng cao niềm hoan hỉ.
Đức Thánh cha cầm những vòng
vàng dát đá quí từ khắp thế giới gởi về, để đặt trên đầu tượng Chúa Giêsu và Mẹ
Maria. Ngài nói: "Xin Mẹ cai quản trên Giáo hội, trên mọi trí khôn, mọi
cõi lòng, mọi cá nhân, mọi gia đình cũng như mọi xã hội và mọi quốc gia, trên mọi
cộng đoàn, những người quyền thế. Xin mẹ hãy cai trị trên mọi nẻo đường và mọi
quảng trường, trong thành thị và chốn thôn quê, trên nền trời, cũng như trên mặt
đất và cả biển khơi."
Ngài còn nói: "Vương
quyền của Đức Maria là một thực tại siêu vượt thế trần, đồng thời lại thấm nhập
mọi cõi lòng và chạm tới phần cốt yếu sâu thẳm nhất có tính cách siêu nhiên và
bất tử nhất của con người."
Đức Maria là Mẹ thánh, tước hiệu
này khiến cho Mẹ được đặc ân không bị thương tổn vì tội lỗi. Vô nhiễm nguyên tội,
Mẹ cũng không bị thương tổn vì sự chết. Khi kết thúc cuộc đời trần gian cũng
như từ những lời đầu tiên buổi truyền tin, mẹ là tuyệt đỉnh của nhân tính bất
khả xâm phạm luôn hiệp nhất với Ngôi Lời để hoàn tất công cuộc cứu rỗi thế
gian. Không một ý tưởng, hành vi nào của Mẹ lại rời khỏi con Mẹ trong việc
chinh phục bản tính nhân loại và việc chinh phục vũ trụ.
Trong kinh lạy Nữ Vương chúng ta
xưng tụng "Thân lạy Nữ Vương, lạy Mẹ từ bi, Mẹ là sự sống, sự ngọt
ngào và hy vọng của chúng con”. Mẹ Maria được xưng tụng như Esther trong Cựu Ước
đã cứu dân ra khỏi hoạ diệt vong, Nữ Vương có mọi quyền hành bên Đức Vua và là
Đấng bầu cử linh thiêng nhất bên cạnh Đức Vua. Ngày nay, những lời ca tụng Đức
Mẹ hướng về vẻ đẹp tuyệt mỹ của Đức Mẹ và uy quyền của Mẹ bên ngai tòa Chúa
Giêsu. Mẹ là hoa quả tuyệt vời của ơn cứu độ và là hoa trái tuyệt mỹ của thập
giá Chúa Giêsu "Một người nữ mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng
trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Mẹ Maria là người
Mẹ đầy uy quyền trước mặt Chúa: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm
theo" (Ga 2,5).
Một cầu chuyện vui nhưng cũng
nói lên một ý nghĩa nào đó cho việc mừng kính của chúng ta hôm nay:
Một ngày kia, Chúa Giêsu đi dạo
trên thiên đàng cũng giống Thiên Chúa đi dạo trong vườn địa đàng thuở xưa. Ngài
rất ngạc nhiên khi nhận thấy trong những góc tối, có nhiều khuôn mặt rất khả
nghi đang ở đó.
Ngài tự hỏi:
- Làm thế nào mà họ vào đây được.
Ngài đến gặp thánh Phêrô và
trách ông là thiếu cảnh giác.
Thánh Phêrô phàn nàn:
- Con làm thế nào được? Con canh
cổng rất cẩn thận, nhưng đêm khuya mẹ Ngài mở cửa sổ cho những kẻ tinh quái này
vào và con làm sao dám chống cự?
Vâng! Chúng ta hãy đến với Đức Mẹ,
chắc chắn Mẹ sẽ không từ chối.
Dougias Hyde là chủ bút tờ báo
vô thần ở Anh quốc. Ông nghiên cứu về Giáo hội Công giáo vì mục đích để viết
bài phê bình Giáo hội .
Nhưng lạ thay, càng nghiên cứu về
Giáo hội, tâm trí ông càng xác tín về chân lý của Giáo hội.
Một ngày nọ, trên đường đến nhiệm
sở ở Luân đôn, ông quyết định ghé vào một nhà thờ. Khi đã yên vị ở hàng ghế cuối,
ông thắc mắc không hiểu mãnh lực nào đã đưa mình đến đây.
Bỗng có một thiếu nữ bước vào,
cô ta đi thẳng đến bức tượng của Đức Maria. Khi cô gái đi ngang qua, Hyde đã nhận
ra khuôn mặt lo âu của cô ta. Cô gái quì dưới chân Đức Maria một lúc lâu, đoạn
đứng dậy và rời khỏi nhà thờ.
Lúc đi ngang qua, Hyde nhận thấy
nét lo âu lúc nãy tan biến, nhường chỗ cho sự an bình vui tươi và thanh thản.
Khi cô gái đi rồi, Hyde liền bắt
chước cô gái ấy đến quì trước tượng Đức Mẹ và nghẹn ngào thốt lên:
- Lạy Đức Mẹ nhân từ, xin hãy
nhân từ, xin Mẹ hãy nhân từ với con.
Đó là những lời ông đã ghi ra
trong cuốn sách tựa đề: "Tôi tin" mà ông đã viết sau này
Lạy Chúa, Chúa đã đặt Thánh Mẫu
của Đức Kitô Con Chúa làm Thánh Mẫu và Nữ Vương chúng con. Xin nhận lời Đức Nữ
Vương chuyển cầu mà cho chúng con đạt tới phúc vinh quang Chúa dành sẵn trên trời
cho con cái Chúa. (Lời nguyện nhập lễ, lễ Đức Maria Nữ Vương)
Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014
Lễ Đức Mẹ Lên Trời A (15/08), Lm Đan Vinh - Hhtm
|
|
|
|
LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI A
(15/08)
Kh 11,19a; 12,1-6a.10ab; 1 Cr
15,20-26; Lc 1,39-56
ĐỨC MA-RI-A CÓ PHÚC VÌ ĐÃ TIN
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Lc 1,39-56
(39) Hồi ấy, bà Ma-ri-a lên
đường vội vã, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa.
(40) Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét. (41) Bà
Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng
nhảy lên, và bà được tràn đầy Thánh Thần, (42) liền kêu lớn tiếng
và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người
con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. (43) Bởi đâu tôi được Thân
Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? (44) Vì này đây, tai tôi vừa nghe
tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. (45) Em
thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người
đã nói với em”.(46) Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Linh hồn tôi ngợi khen
Đức Chúa, (47) thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng
cứu độ tôi (48) Phận tỳ nữ hèn mọn Người đoái thương nhìn tới. Từ
nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. (49) Đấng Toàn Năng đã làm
cho t
ôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn ! (50). Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. (51) Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. (52) Chúa hạ bệ những ai quyền thế. Ngươi nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. (53) Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư. Người giàu có, lại đuổi về tay trắng. (54) Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người, (55) như đã hứa cùng cha ông chúng ta. Vì Người nhớ lại lòng thương xót, dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời”. (56) Bà Ma-ri-a ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà.
2. Ý CHÍNH:
Bài Tin Mừng có thể được
chia thành ba phần như sau:
- Phần I (39-40): Sau khi
trở thành Mẹ Đấng Cứu Thế do lời thưa “xin vâng”, Đức Ma-ri-a vội
vã lên đường thăm viếng bà chị họ Ê-li-sa-bét, đã có thai được 6
tháng, như lời sứ thần cho biết. Hai bà mẹ đều được chúc phúc vì
đã quảng đại đáp lời mời gọi, cộng tác vào chương trình cứu độ
của Thiên Chúa.
- Phần II (41-46a): Thần
Khí tác sinh và hoan lạc đã bao trùm Đức Trinh Nữ, cũng làm cho con
trẻ Gio-an đang ở trong dạ mẹ nhảy mừng, chào đón Đấng Thiên sai
trong lòng Đức Ma-ri-a. Thần Khí ấy cũng tác động làm cho bà Ê-li-sa-bét
nhận biết cô em họ Ma-ri-a đây, chính là Mẹ của Đấng Thiên Sai, đã
đến viếng thăm mình. Cũng chính Thần Khí ấy làm cho niềm vui của
Đức Ma-ri-a bộc phát thành bài ca “Ngợi khen” (Magnificat).
- Phần III (46b-56): Bài ca
tóm lại lịch sử của dân Chúa trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Cách riêng Chúa đã làm cho Ma-ri-a những điều trọng đại, cũng như
đã từng làm trong lịch sử dân It-ra-en: Người hạ những kẻ quyền
thế kiêu căng xuống và nâng những người hèn mọn khiêm nhường lên; ban
cho kẻ nghèo khó được no đầy ơn phúc và để người giàu có bị đuổi
về tay không. Người luôn phù trì cho dân tộc Ít-ra-en, đúng như lời
Người đã hứa với tổ phụ Áp-ra-ham, rằng sẽ thương xót ông và con
cháu đến muôn đời.
3. CHÚ THÍCH:
- C 39: + Lên đường vội vã:
Chỉ một thời gian ngắn sau biến cố Truyền tin, Đức Ma-ri-a đã vội
vã lên đường đến thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét (hay cũng gọi là
I-sa-ve), mà sứ thần đã cho biết bà mới có thai được 6 tháng. Bà
này đã chịu tủi hổ trước mặt người đời, vì bị son sẻ không con. +
Đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa: Thành mà Đức
Ma-ri-a định tới là một trong mười một địa hạt miền Giu-đê. Nhiếu
người nghĩ đó là A-in Ka-rim, cách thủ đô Giê-ru-sa-lem 6 cây số về
phía Tây. Con đừong từ Na-da-rét đến A-in Ka-rim dài 150 cây số.
- C 40-41: + bà vào nhà ông
Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét: Cuộc gặp gỡ giữa hai bà mẹ
chính là cơ hội để thai nhi Giê-su gặp gỡ thai nhi Gio-an là tiền hô của
Người. + Đứa con trong bụng nhảy lên: Gio-an Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ
ngôn sứ bằng động tác nhảy mừng trước Đấng Thiên Sai (Mêsia) đang ẩn
mình trong dạ mẹ, giống như vua Đa-vít xưa đã nhảy mừng khi ra đón Hòm Bia
Giao Ước. Truyền thống coi sự kiện này là dấu hiệu Gio-an Tẩy Giả được
khỏi tội tổ tông truyền. + Bà được đầy ơn Chúa Thánh Thần: Thánh
Thần đã tác động khiến bà Ê-li-sa-bét cảm nhận được cô em họ Ma-ria
là Mẹ Đấng Mê-si-a đã mang Người đến viếng thăm nhà mình.
- C 42-44: + Em được chúc
phúc hơn mọi người phụ nữ và người con em đang cưu mang cũng được
chúc phúc: Bà Ê-li-sa-bét ca tụng Ma-ri-a diễm phúc hơn mọi phụ nữ,
vì thai nhi trong lòng Ma-ri-a là Đấng được Thiên Chúa chúc phúc. +
Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ?: “Chúa tôi”
ở đây là danh xưng của Đấng Mê-si-a. Nhờ được Thần Khí tác động mà bà
Ê-li-sa-bét đã nhận ra Chúa của mình là Thai nhi mà cô em Ma-ri-a đang
cưu mang. Danh xưng Đức Giê-su là “Chúa” được Tin Mừng Lu-ca sử dụng
đến 40 lần. + Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa
con trong bụng đã nhảy lên vui sướng: Ê-li-sa-bét chia sẻ cho Ma-ri-a
sự lạ mà bà vừa cảm nghiệm. Đó cũng là lý do khiến bà nhận biết
Đức Ma-ri-a đang cưu mang Thai Nhi Cứu Thế.
- C 45: + Em thật có phúc,
vì đã tin: Ma-ri-a đã tin vào những lời Chúa phán với mình khi sứ
thần truyền tin sẽ được thực hiện, và trở thành người tín hữu
đầu tiên của thời Tân Ước. Ngược lại với ông Da-ca-ri-a chồng bà vì
không tin và đòi thấy dấu lạ, nên đã bị câm cho đến khi các điều sứ thần
nói xảy ra (x. Lc 1,20).
- C 46-50: +“Linh hồn tôi
ngợi khen Đức Chúa: Sau khi nghe bà Ê-li-sa-bét khen là có phúc,
Ma-ri-a đã quy hướng lời ca khen đó về cho Thiên Chúa trong bài kinh
“Ngợi khen Thiên Chúa” (Magnificat). Bài này mô phỏng theo bài ca mà
bà An-na là mẹ của ngôn sứ Sa-mu-en, sau khi được Đức Chúa cho sinh
con trai và mang đứa trẻ lên Đền Thờ tại Si-lô thời Tư tế Ê-li, để
thánh hiến dâng cho Đức Chúa (x. 1 Sm 2,1-10). Kinh này nhấn mạnh hai đìều:
Một là người nghèo hèn bé mọn được Chúa bênh vực (x. Xp 2,3 ; Mt
5,3); Hai là dân Ít-ra-en được Chúa tuyển chọn và yêu thương (x. Đnl
7,6). Đức Ma-ri-a đã hát lên bài ca này để bày tỏ lòng tri ân của mình (cc
46-49) và của toàn dân It-ra-en (cc 50-55), vì nay đã đến thời điểm lời
hứa cứu độ của Đức Chúa được thực hiện.
- C 51-55: + Chúa giơ tay
biểu dương sức mạnh: Chúa dùng quyền năng để can thiệp và bênh vực
người hèn yếu (x. Tv 118,15-16). + Vì Người nhớ lại lòng thương xót:
Cựu Ước thường ghi là “Thiên Chúa nhớ lại” để diễn tả việc Người
luôn trung thành với lời hứa và thi hành những lời Ngừơi đã phán qua các
ngôn sứ (x. St 8,1; 9,15; Xh 2,24). Lu-ca cũng không quên ghi lại lời chúc
tụng tương tự trong bài ca của Da-ca-ri-a trước đó: “Người nhớ lại lời
xưa giao ước” (Lc 1,72).
- C 56: + Ở lại với bà
Ê-li-sa-bét độ ba tháng: Ở lại để giúp đỡ bà chị Ê-li-sa-bét, làm
các việc nhà thay cho bà trong thời kỳ cuối trước khi bà sinh con. Nhưng
Đức Ma-ri-a chỉ phục vụ đúng mức mà thôi. + rồi trở về nhà: Một
tuần sau ngày bà Ê-li-sa-bét sinh nở, sau khi con trẻ được đặt tên và
chịu phép Cắt Bì để được gia nhập vào dân Ít-ra-en, thì Đức Ma-ri-a
đã trở về quê nhà là thành Na-da-rét.
4. CÂU HỎI: 1) Lý do nào khiến
Đức Ma-ri-a vội vã lên đường viếng thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét ? 2) Truyền thống
Công Giáo khẳng định Gio-an Tẩy Giả được khỏi tội tổ tông truyền từ lúc nào ?
3) Bà Ê-li-sa-bét được đầy Thánh Thần đã gọi Đức Ma-ri-a bằng tước hiệu gì ?
4) Tại sao bà Ê-li-sa-bét khen Đức Ma-ri-a diễm phúc, khác với ông
Gia-ca-ri-a chồng bà ? 5) Bài kinh “Ngợi khen Thiên Chúa” (Magnificat) có nguồn
gốc thế nào trong Cựu Ước và nội dung nhấn mạnh những gì ? 6) Đức Ma-ri-a ở lại
nhà bà Ê-li-sa-bét trong bao lâu và ở lại để làm gì ?
II. SỐNG LỜI CHÚA:
1. LỜI CHÚA: Bà
Ê-li-sa-bét được tràn đầy Thánh Thần đã ca tụng Đức Ma-ri-a rằng: “Em
được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ” (41-42a),… và: “Em thật có phúc,
vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”
(45). Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (46).
2. CÂU CHUYỆN VÀ LỊCH SỬ NGÀY
ĐẠI LỄ:
1) MẸ MA-RI-A HẰNG CỨU
GIÚP NHỮNG AI CHẠY ĐẾN VỚI NGƯỜI:
ĐU-LỚT HAI-ĐƠ (Douglas Hyde)
vốn là một người vô tín và thù ghét đạo Công giáo. Ông là chủ
bút một tờ báo lớn ở nước Anh. Với tư cách là chủ bút, ông nghiên
cứu về Giáo hội để viết những bài phê bình chống đối gay gắt. Tuy
nhiên một điều lạ lùng đã xảy ra, là ông càng nghiên cứu về giáo
lý bao nhiêu, thì tâm trí ông lại càng thêm tin tưởng vào các chân
lý ấy bấy nhiêu. Tuy vậy ông vẫn chưa quyết định dứt khóat tin theo đạo
ngay.
Một hôm, trên đường từ nhà
đến tòa soạn ở trung tâm thủ đô Luân Đôn, lúc xe lửa đến trạm dừng,
Đu-Lớt thấy tấm biển ghi “Nhà thờ Công giáo” ở bên đường, ông liền
thử vào bên trong nhà thờ xem sao. Ông ngồi vào hàng ghế ở cuối nhà
thờ và rồi thắc mắc tại sao mình lại có mặt ở đây? Bấy giờ ông
thấy một cô gái bước vào nhà thờ, nét mặt âu lo buồn khổ. Cô ta đi
thẳng đến trước tòa Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp bên trái cung thánh nhà
thờ và quỳ dưới hình Đức Mẹ một hồi lâu. Sau đó, cô đứng dậy đi
xuống cuối và ra khỏi nhà thờ. Khi cô đi ngang, Đu-lớt nhận thấy
nét mặt của cô ta đã bình thản trở lại chứ không còn lo âu sầu não như
khi mới bước vào nhà thờ.
Ngay lúc đó Đu-lớt quyết
định thử làm theo cô gái là cũng đến quỳ trước ảnh Đức Mẹ. Sau này
ông đã viết trong cuốn “tôi tin” (I believed) như sau: “Tôi không biết
người ta đã cầu nguyện với Đức Mẹ thế nào ? Cuối cùng tôi nghe
thấy chính mình sắp nói ra một điều gì đó thích hợp. Tuy nhiên khi
bắt đầu thốt ra thì tôi lại thấy lời đó có vẻ kỳ cục làm sao !
Nhưng điều này không quan trọng gì. Tôi biết rõ là sự tìm kiếm bấy
lâu nay của tôi đã đạt tới đích… Lúc ra khỏi nhà thờ, tôi cố gắng
hồi tưởng lại những gì tôi nói và hầu như tôi bật cười khi nhớ
lại những lời ấy. Chúng giống hệt những lời ngân lên trong một
điệu khiêu vũ !” Cuối cùng Đu-lớt đã đạt tới đức tin vào Chúa Giê-su qua lời
cầu bầu của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.
2) ĐỨC MA-RI-A HÒM BIA THIÊN
CHÚA:
+ LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA
HÒM BIA GIAO ƯỚC: Hòm bia hay Khám Giao Ước là một chiếc thùng được
làm bằng gỗ keo hình chữ nhật, dài một thước hai, rộng bảy tấc
rưỡi và cao bảy tấc rưỡi. Được dát bằng vàng ròng cả trong lẫn
ngoài (x. Xh 37, 1-2). Bên trong chứa đựng hai tấm bia ghi Mười điều
răn do chính Thiên Chúa viết và ban cho dân It-ra-en qua trung gian của
Mô-sê trên núi Khô-rép (x. Xh 20,1-17; Đnl 5,2-21). Về sau Mô-sê còn
viết sách Luật và truyền đặt bên cạnh Hòm Bia (x. Đnl 31,24-27). Trên
Hòm Bia có một cái nắp đậy được gọi là Nắp Xá Tội. Hai bên đầu
nắp có hai bức tượng thần hộ giá (Kê-ru-bim) bằng vàng gò đặt đối
diện nhau và cùng cúi mặt xuống nắp. Hai tượng này có cánh giương
lên và phủ trên nắp (x. Xh 25,18-20). Chính nơi Hòm Bia này mà Đức
Chúa hiện ra nói chuyện với dân Người và đáp lại lời họ kêu xin (x.
Xh 25,22; 1 Sm 4,4). Trong cuộc hành trình qua sa mạc, Hòm Bia Giao Ước
l
uôn được khiêng đi trước dẫn đường cho dân Ít-ra-en. Vua Đa-vít đã đem cả Hòm Bia Giao Ước lẫn Lều Thánh về Giê-ru-sa-lem và làm cho thành này trở thành trung tâm của Vương quốc cả về chính trị lẫn tôn giáo. Vua Sa-lô-môn đã đặt Hòm Bia Giao Ước vào nơi Cực Thánh của Đền Thờ sau khi xây dựng xong. Đối với nhà vua cũng như toàn dân, Hòm Bia Giao Ước mang ý nghĩa lãnh đạo và che chở, đồng thời cũng là lời khuyến cáo phải sống theo thánh ý Thiên Chúa đang ngự giữa dân Người. Sau khi đế quốc Ba-by-lon tàn phá Đền thờ Giê-ru-sa-lem vào năm 587 trước Công Nguyên, họ cũng phá hủy cả Hòm Bia Giao Ước. Từ đó tất cả ý nghĩa của Hòm Bia Giao Ước đều chuyển sang Đền Thờ thứ hai và thành thánh Giê-ru-sa-lem, được coi là ngai tòa và là bệ chân của Thiên Chúa.
+ ĐỨC MA-RI-A, HÒM BIA CỦA
GIAO ƯỚC MỚI: Trong Tân Ước, Đức Ma-ri-a được công nhận là nơi Thiên
Chúa cư ngụ, giống như Hòm Bia của Giao Ươc mới. Nơi Đức Ma-ri-a,
quyền năng của Thiên Chúa đã được tỏ hiện, đúng như sứ thần đã
nói với Người: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà và quyền năng
Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà” (Lc 1,35). Thực vậy, vinh quang
Thiên Chúa đã bao phủ trên Ma-ri-a giống như cột mây cột lửa đã rợp
bóng trên dân It-ra-en để bang trợ, phù giúp dân vượt qua biển Đỏ về
miền Đất Hứa (x. Xh 14,19-20). Trong biến cố Truyền tin, ngay sau lời
thưa “Vâng” của Người, Thánh Thần đã tác động làm cho Đức Ma-ri-a
thụ thai mà vẫn còn trinh khiết, và Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập
vào Thai nhi ấy, trở thành người có xác có hồn giống như chúng ta
(x. Lc 1,38), ngoại trừ không có tội. Đó là Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập
Thể. Tóm lại, Đức Ma-ri-a cũng đựơc ví như Hòm Bia của Giao Ước
Mới, nơi mà “Lời Thiên Chúa đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa
chúng ta” (x. Ga 1,14), và Đức Giê-su trở thành Đấng “Em-ma-nu-en”
Nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23). Đức Ma-ri-a là Mẹ
cưu mang Hài Nhi Giê-su trong lòng, nên Người cũng được ví như Hòm Bia
Thiên Chúa.
3) LỊCH SỬ TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ
HỒN XÁC LÊN TRỜI:
+ Từ thuở ban đầu, các
giáo đoàn tiên khởi đều tôn kính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Từ những
đoạn Thánh Kinh Tân Ước, đến các giáo phụ, rồi Công đồng chung
Ê-phê-sô năm 431 đã tuyên bố “Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa”. Đã có
những lễ nói đến lúc chấm dứt cuộc đời của Đức Ma-ri-a như: Lễ
Đức Mẹ An Giấc (dormitio), Lễ Đức Mẹ Chuyển Biến (Transitus), Lễ
Đức Mẹ Sinh Ra Trên Trời (Natalis), Lễ Đức Mẹ được Nâng Lên Trời
(Assumptio).
+ Riêng Lễ Đức Mẹ An Giấc
(Dormitio) đã được long trọng cử hành đó đây trong Giáo Hội Đông
Phương. Nhất là từ sau Công đồng chung Ê-phê-sô năm 431, nhưng mãi đến
thế kỷ thứ 7, lễ này mới được du nhập vào Giáo Hội Tây
Phương.
Từ đó về sau nhiều thư
thỉnh nguyện của các giám mục, các dòng tu, các nhà thần học
được gửi đến Đức Giáo Hoàng để xin Ngài định tín về việc Đức Mẹ
Hồn Xác Lên Trời. Trong Công đồng Va-ti-ca-nô I, nhiều nghị phụ cũng
yêu cầu Đức Thánh Cha quyết định điều đó, vì theo các ngài thì
việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời có liên quan mật thiết với đức đồng
trinh và chức vụ làm mẹ Đấng Cứu Thế của Ngài. Hơn nữa, vì Mẹ
đã được cứu chuộc hoàn toàn, nên cũng phải được tôn vinh toàn diện
như lời thánh Phao-lô: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi
sự đều sinh ích cho những ai yêu mến người, tức là cho những ai
Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng
hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử
giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,28-29). Dựa theo các thỉnh nguyện thư
đó, năm 1946, Đức Pi-ô 12 đã gửi đến mỗi giám mục một lá thư và yêu
cầu trả
lời như sau: “Đức cha và hàng giáo sĩ, giáo dân trong giáo phận của Đức cha, có xác tín và có muốn công bố việc Đức Ma-ri-a hồn xác lên trời như một tín điều hay không ?” Hầu hết các thư trả lời đều đồng ý và thỉnh nguyện như vậy. Thế là vào ngày 1.11.1950, Đức Pi-ô 12 đã long trọng tuyên bố tín điều Đức Ma-ri-a Hồn Xác Lên Trời cho toàn thể Giáo Hội tin kính và mừng chung vào ngày 15 tháng 8 hằng năm.
+ Đức Thánh Cha đã xác
quyết: “Thế nên Đức Thánh Mẫu cao cả, ngay từ đời đời và do cùng
một quyết định tiền định, đã được kết hợp với Đức Giê-su Ki-tô
một cách huyền nhiệm, vô nhiễm khi đầu thai, đồng trinh vẹn sạch khi
làm Mẹ, cộng tác quảng đại với Đấng Cứu Thế, Đấng đã chiến
thắng hoàn toàn sự tội và các hiệu quả của nó, thì cuối cùng
để kết thúc mọi đặc ân ngài đã được, Đức Trinh Nữ cũng đã gìn
giữ khỏi bị hư nát ở trong mồ, để nên giống Con Mình. Sau khi chiến
thắng sự chết, ngài cũng được tôn vinh trên trời cả hồn lẫn xác,
nơi Ngài được sáng láng làm Nữ Vương ngự bên hữu Con mình là Vua
bất tử của mọi thời” (trích CGKPV trang 334).
4) NHỮNG BẰNG CHỨNG THẦN
HỌC:
Ngoài truyền thống hay
Thánh Truyền là ký ức tông truyền, Giáo Hội còn dựa trên một số
đoạn Thánh Kinh cho thấy Mẹ Thiên Chúa liên kết rất mật thiết với
Con Mình và luôn chia sẻ tất cả thân phận của con, để xác tín đặc
ân Hồn Xác Lên Trời của Mẹ:
+ “Dòng giống người nữ sẽ
đánh vào đầu mi” (St 3,14-15): Câu này có ba cách hiểu: Một là “Sự
chiến thắng của dòng giống người đàn bà trên dòng giống con rắn”
(Bản văn tiếng Do Thái). Hai là “Người đàn bà sẽ đạp lên đầu mi”
(Bản văn tiếng La Tinh), khẳng định vai trò của Mẹ Đấng Mê-si-a trên
con rắn hỏa ngục là ma quỷ (x. Kh 12,13.17). Ba là “Người đó sẽ đánh
vào đầu mi” (Bản văn Bảy mươi tiếng Hy Lạp), được hiểu là Đức Giê-su, Đấng
sẽ chiến thắng con rắn ma quỷ.
+ “Đấng đầy ân sủng, luôn
được Thiên Chúa ở cùng” (x. Lc 1,28): Đầy ơn phúc và luôn có Chúa
tức là hoàn toàn trong sạch thánh thiện, nên Người không phải chết
như loài người chúng ta. “Bà sẽ thụ thai, sinh một con trai và đặt
tên là Giê-su” (Lc 1,31): Đức Ma-ri-a được chọn làm Mẹ Đấng Thiên Sai,
Đấng sẽ thay vua Đa-vít cai trị Ít-ra-en và triều đại của Người sẽ
luôn vững bền.
+ Đức Ma-ri-a là E-và Mới:
Đã cộng tác với Đức Giê-su là A-Đam mới, để vâng phục Chúa Cha (x.
Rm 5,12-19 ; PI 2,6-11). Mẹ đã tích cực cộng tác với Đức Giê-su trong
cuộc khổ nạn (x. Ga 19,25), thì cũng được dự phần vào sự phục sinh
vinh quang với Người.
3. SUY NIỆM:
1) ĐỨC MA-RI-A LÀ MẸ ĐỨC
GIÊ-SU:
Là Mẹ đã thụ thai và hạ
sinh Đức Giê-su: Tin Mừng Lu-ca thuật lại việc Đức Trinh Nữ Ma-ri-a
đã được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế nhờ có Chúa ở
cùng, và luôn kết hiệp mật thiết với Người. Sau lời thưa “xin vâng”,
Ma-ri-a đã đuợc thụ thai mà vẫn bảo toàn đức trinh khiết nhờ quyền
năng Thánh Thần (x. Lc 1,28-38). Sau đó Ma-ri-a theo “Ông Giu-se từ
thành Na-da-rét miền Ga-li-lê lên thành Bê-lem, miền Giu-đê là thành
vua Đa-vít, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Đa-vít. Ông lên đó
khai tên cùng với người đã đính hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy
đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày
mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi
đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà
trọ” (Lc 2,4-7).
2) ĐỨC MA-RI-A LÀ MẸ HỘI
THÁNH:
+ Tin Mừng Gio-an viết:
“Đứng gần thập giá Đức Giê-su có Thân Mẫu Người, chị của thân mẫu
là bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Khi
thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su
nói với thân mẫu rằng: “Thưa bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói
với môn đệ: “Đây là mẹ của anh”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước
Bà về nhà mình (Ga 19,25-27).
+ Thánh Phao-lô cũng dạy:
“Thiên Chúa đặt Người làm Đầu toàn thể Hội Thánh. Mà Hội Thánh
là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất
cả được viên mãn” (x. Ep 1,22b-23); “Người cũng là đầu của thân thể,
nghĩa là đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18). Như vậy Đức Ma-ri-a là Mẹ
của Đức Giê-su là Đầu, thì cũng là Mẹ của thân thể Đức Giê-su là
Hội Thánh, trong đó có mỗi tín hữu chúng ta.
+ Người là gương khiêm
nhường cho các tín hữu qua việc luôn lắng nghe Lời Chúa, tìm hiểu
ý Chúa và mau mắn xin vâng (x. Lc 1,30-36). người cũng nêu gương bác
ái khi chủ động thăm viếng bà chị họ Ê-li-sa-bét, đem niềm vui ơn
cứu độ đến cho gia đình Gia-ca-ri-a, làm cho thai nhi Gio-an “nhảy
mừng’ vì được khỏi tội tổ tông truyền. Sau đó Người còn ở lại 3
tháng để phục vụ, giúp đỡ công việc nhà cho bà Ê-li-sa-bét trong ba
tháng, trước khi trở về nhà mình (x. Lc 1,39-56). Người cũng quan tâm
đến đôi tân hôn trong bữa tiệc cưới bị thiếu rượu tại thành Ca-na khi đứng
ra cầu thay nguyện giúp đội tân hôn với Đức Giê-su, xin Người can thiệp
giúp đôi tân hôn. Dù Giờ chưa đến, nhưng Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu
tiên là biến nước lã trở thành rượu ngon để giúp đôi tân hôn này (x.
Ga 2,1-11).
3) ĐỨC MA-RI-A LÀ NGƯỜI CÓ
PHÚC:
Ma-ri-a đầy ơn phúc và
được Chúa luôn ở cùng như lời chào của sứ thần truyền tin (x. Lc
1,28).
+ Ma-ri-a đầy ơn phúc vì tâm
hồn Mẹ trong sạch và luôn kết hiệp với Chúa.
+ Ma-ri-a có phúc vì đã
tin: Bà Ê-li-sa-bét đã ca tụng Đức Ma-ri-a rằng: “Em thật có phúc,
vì đã tin rằng: Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”
(Lc 1,45).
+ Ma-ri-a có phúc vì được
làm Mẹ Đức Giê-su. Là Hòm Bia Giao Ước Mới, Đức Maria chứa đựng
chính Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, để ở cùng chúng ta (x. Ga 1,14;
Mt 1,23).
+ Nhưng nhất là có phúc
vì đã trở thành môn đệ Đức Giê-su như Đức Giê-su đã đáp lại lời một
phụ nữ khen ngợi người mẹ đã có công sinh thành nuôi dưỡng Người: “Đúng
hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên
Chúa” (Lc 11,27-28). Do đó, Đức Giáo Hòang Phao-lô VI đã gọi Đức
Ma-ri-a là “môn đệ tiên khởi và tuyệt hảo nhất của Đức Ki-tô”.
4) ĐỨC MA-RI-A LÊN TRỜI ĐỂ
CHUYỂN CẦU CHO CHÚNG TA:
+ Việc Hội Thánh tuyên bố
tín điều “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời” dạy chúng ta phải ý thức về
thiên đàng đời sau. Chúng ta chỉ được lên trời nếu ngay từ đời này
đã sống theo Lời Chúa Giê-su và đi con đường đau khổ thập giá của
Người như Đức Ma-ri-a xưa.
+ Đức Ma-ri-a lên trời,
nhưng luôn cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta là con cái Người. Ta hãy
xin ơn được chết lành trong tay Đức Mẹ và sau này được hưởng hạnh
phúc thiên đàng cùng Mẹ.
+ “Đến với Chúa Giê-su nhờ
Mẹ Ma-ri-a” (Ad Jesum per Mariam): Chúng ta cần hiệp cùng Mẹ Ma-ri-a
mỗi khi cầu nguyện với Thiên Chúa, noi gương Hội Thánh thời sơ khai
(x. Cv 1,14). Ta hãy gắn bó với Mẹ và nhờ Mẹ cầu bầu cùng Chúa
Giê-su ban ơn lành hồn xác cho ta như Mẹ đã làm cho đôi tân hôn tại
tiệc cưới thành Ca-na (x. Ga 2,3).
+ Sống đức Tin, Cậy, Mến
với Chúa noi gương Đức Mẹ: Tin những Lời Chúa phán, tìm hiểu ý
Chúa dạy và sẵn sàng xin vâng ý Chúa, chấp nhận mọi may rủi xảy
đến với lòng cậy trông phó thác.
4. THẢO LUẬN: 1) Việc về
trời của Đức Mẹ hôm nay giống và khác với việc lên trời của Chúa
Giê-su ra sao ? 2) Ngay từ bây giờ chúng ta phải làm gì để sau này
cũng được Chúa ban hạnh phúc lên trời với Mẹ ?
5. NGUYỆN CẦU:
1) LẠY CHÚA BA NGÔI CỰC
THÁNH. Hôm nay con cảm tạ Chúa vì Chúa đã thực hiện việc lớn lao
nơi Đức trinh Nữ Ma-ri-a, là người con thân yêu và là nữ tỳ hèn mọn
của Chúa. Chúa đã thương cho Mẹ trở nên giống Con mình là Chúa
Giê-su: nhờ giữ đức trinh khiết vẹn toàn, tâm hồn không vương chút
bùn nhơ tội lỗi; Nhờ biết đặt trọn niềm tin vào lời Chúa phán sẽ
được thực hiện; Nhờ luôn xin vâng ý Chúa để trở thành Mẹ Đấng Thiên
Sai; Nhờ biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa; Nhờ tham phần với nỗi
đau khổ của Chúa Giê-su trên đường thánh giá... mà Mẹ Ma-ri-a đã
được Chúa ban thưởng bội hậu là được lên trời cả hồn lẫn xác.
2) LẠY ĐỨC MA-RI-A LÀ MẸ
RẤT NHÂN TỪ. “Xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy
đến cùng Đức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp, mà Đức Mẹ từ chối chẳng
nhậm lời”. Hôm nay cùng với Hội thánh hoàn cầu, chúng con long
trọng mừng lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Xin cho chúng con biết chạy đến
với Mẹ trong những khi phải cơn gian nan thử thách, những khi con thất
bại trong việc làm ăn, những lúc con không biết phải làm gì để
vượt qua hoàn cảnh khó khăn… Trong những giờ phút đau thương ấy, xin
cho chúng con biết chạy đến nép mình dưới tà áo Mẹ, để được Mẹ
che chở ủi an, để được Mẹ cầu bầu cùng Chúa Giê-su, ban cho chúng
con các ơn lành hồn xác. Nhất là xin Mẹ đừng để khi nào chúng con
đi vào con đường lầm lạc. Xin dạy chúng con luôn lắng nghe Lời Chúa
Giê-su là con yêu của Mẹ, như Mẹ đã dạy các người giúp việc trong tiệc
cưới Ca-na xưa.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.-
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH - HHTM
|
VINH QUANG CỦA ĐỨC MẸ
|
Đức Maria là người phàm duy nhất
được lên trời cả hồn và xác. Chẳng những thế, Người còn được tôn làm Nữ vương
trời đất. Bởi đâu mà Đức Mẹ được hưởng vinh quang cao cả như vậy? Câu chuyện
sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu được lý do.
Ở một vùng đất xa xôi hẻo lánh
kia có một bộ lạc sinh sống. Năm đó trời hạn hán không mưa nên mùa màng thất
bát, cuộc sống khổ cực. Dân bộ lạc tổ chức một buổi lễ cầu mưa. Họ cầu nguyện
rằng: “Lạy thần linh, xin chỉ cho chúng con biết chúng con đã phạm tội gì để
đáng bị trừng phạt như vậy. Và xin dạy chúng con biết phải làm gì để có mưa”.
Họ cầu nguyện như thế suốt 3 ngày nhưng trời vẫn không mưa xuống.
Khi đó những người lớn tuổi rủ
nhau lên đồi, vì họ nghĩ rằng lên đó họ sẽ nghe được tiếng trả lời của thần
linh trong các luồng gió thổi tới. Và quả thực họ đã được nghe câu trả lời:
Lý do khiến họ bị hạn hán là vì họ quá ích kỷ: bấy lâu nay họ chỉ biết khai
thác đất đai mà không ban lại cho đất cái gì để nuôi dưỡng đất. Vậy, để khỏi
bị trừng phạt thì họ phải lấy những thứ quý giá nhất trong nhà đem đốt đi
thành tro rồi rải xuống đất. Mọi người cảm tạ thần linh đã chỉ bảo và hứa sẽ
làm theo. Nhưng khi trở về nhà, nhìn những đồ vật quý giá thì họ lấy làm tiếc.
Vì thế, thay vì những món đồ quý, họ chỉ lấy những thứ xoàng xĩnh mà đốt. Dĩ nhiên
trời vẫn không mưa.
Trong bộ lạc có một cô bé tên
là Miriam. Cô có một con búp bê xinh xắn mà cô quý nhất trên đời. Cô bé hiểu
được lý do khiến trời không mưa là vì người ta đã tiếc không dám dâng hiến
cho thần linh những thứ quý giá nhất. Thế là cô mang con búp bê lên đồi, đốt
nó đi, vừa đốt vừa khóc. Đốt xong, cô lấy tro rải lên mặt đất, rồi ngủ thiếp
đi. Khi cô tỉnh dậy thì cả ngọn đồi đều mọc đầy hoa, những cành hoa mọc lên từ
đám tro của con búp bê mà cô bé đã đốt. Việc làm của cô bé đã khiến dân làng
hiểu ý thần linh: họ xấu hổ vì đã không dám hy sinh nghe lời thần linh như cô
bé Miriam. Thế là ai nấy về nhà lấy tất cả những thứ quý giá nhất đem đốt.
Ngay sau đó thì trời đổ mưa. Mọi người tung hô cô bé Miriam như một vị anh
hùng đã cứu sống cả bộ lạc.
Câu chuyện trên chỉ là truyền
thuyết và có thể là hư cấu. Nhưng nó giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của ngày
lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Cô bé trong câu chuyện tên là Miriam, cũng giống
tên Đức Mẹ Maria; Cô bé Miriam được thần linh tôn vinh bằng cách cho bông hoa
trổ đầy trên ngọn đồi nơi cô bé ngủ, cô cũng được dân làng tôn vinh như vị cứu
tinh của bộ lạc là vì cô đã dám hy sinh món đồ chơi mà cô quý nhất trên đời.
Đức Maria cũng thế, Người được tôn vinh làm Nữ vương trời đất và được lên trời
cả hồn và xác là vì Mẹ đã hy sinh tất cả cho Chúa: Chúa muốn gì Mẹ cũng vâng
theo: (1) Mẹ muốn sống cuộc đời đồng trinh, nhưng khi Thiên Chúa muốn Mẹ thụ
thai sinh hạ Chúa Giêsu, Mẹ đã thưa “Xin Vâng”; (2) Chúa Giêsu là người con
duy nhất của Mẹ, là nguồn hạnh phúc của Mẹ trong gia đình và là nơi nương tựa
của Mẹ trong tuổi già, nhưng vì Thiên Chúa muốn nên Mẹ cũng sẵn sàng hy sinh
để Chúa Giêsu ra đi rao giảng Tin Mừng và chịu nạn chịu chết trên Thánh giá để
chuộc tội cho nhân loại. Đúng như lời bà Êlisabét nói, Đức Mẹ có phúc hơn tất
cả mọi người vì Đức Mẹ luôn làm theo ý Chúa, luôn “xin vâng” với Chúa.
Gương Đức mẹ dạy chúng ta 2 điều:
(1) Chúng ta thường nghĩ rằng hạnh phúc là do “được”, có được những gì mình
mong muốn. Đúng vậy. Nhưng hạnh phúc cũng còn do hy sinh, do dám cho đi, cho
đi những gì mình tha thiết nhất. Có khi hạnh phúc bởi cho đi còn sâu đậm và
cao cả hơn hạnh phúc do nhận được; (2) Đặc biệt trong tương quan giữa chúng
ta với Chúa, chúng ta thường chỉ xin Chúa ban cho chúng ta, khi thì xin điều
này khi thì xin điều khác, chỉ xin và xin, chỉ nhận và nhận. Ít khi chúng ta
cho Chúa, hy sinh vì Chúa. Thực ra Chúa không cần chúng ta cho Ngài điều gì cả.
Những thứ mà chúng ta cho Chúa cũng chẳng đáng gì cả. Nhưng những thứ nhỏ bé
mà chúng ta cho Chúa như thế chứng tỏ tấm lòng của chúng ta đối với Chúa. Và
để đáp lại, Chúa sẽ ban lại cho ta gấp bội.
LM. Carolô Hồ Bặc Xái
Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha,
Ðấng tạo thành trời đất,
Ðã tỏ hiện cho những kẻ khiêm nhu bé mọn. Chúng con cảm tạ Cha đã muốn giao ước với loài người. Cha đã yêu thương chúng con trước một cách nhưng-không,
Khi đoái đến một dân tộc mà
Cha gọi là "dân nhỏ bé nhất trong muôn dân".
Tại một thôn xóm vô danh nhất trên miền Ðất Hứa, Trong số những thiếu nữ vô danh nhất của Ít-ra-en, Cha đã chọn một cô gái làm Mẹ Chúa Giê-su,
Một cô gái được chúc phúc hơn
mọi cô gái,
Một thiếu nữ đã đáp ứng được mọi ân sủng của Cha. Ðối với muôn thế hệ, Ðức Ma-ri-a đã trở nên gương sáng phục vụ và khó nghèo cho Hội Thánh.
Vâng, lạy Cha, chúng con cảm tạ
Cha
Ðã gầy dựng nên Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a trong số những kẻ bé mọn. Cha muốn rằng bởi Mẹ mà Chúa Con trở thành người trong nhân loại, Kết hiệp chúng con với Cha trong Chúa Thánh Thần.
Robert Guelluy
|
Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014
NGUỒN GỐC LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI
Lễ Mẹ hồn xác lên trời là lễ cổ
xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong toàn thể Giáo hội.
Toàn thể ở đây được hiểu là bao trùm cả Giáo hội Đông phương, Công giáo lẫn
Chính Thống giáo. Theo truyền thống của Giáo hội Đông phương dành 15 ngày
đầu tháng 8 để chuẩn bị cuộc lễ và 15 ngày cuối để tạ ơn.
Trong những thế kỷ đầu, lễ Đức Mẹ
Hồn Xác Lên Trời được gọi là lễ Đức Mẹ an giấc. Ngày lễ đã được mặc cho tất
cả sự trang trọng kể từ năm 1950 khi Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII định tín việc Đức
Mẹ được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác. Với tín điều này, Giáo hội chỉ
công bố long trọng một chân lý vốn đã được các tín hữu Kitô tin từ ngàn xưa tôn
kính. Chân lý đó là: “Thân xác của Người phụ nữ đã trao ban thể xác
cho Con Thiên Chúa đã không phải chịu định luật của sự thối rữa”.
Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời không
những là lễ cổ xưa nhất về Đức Mẹ. Nhưng ngày 15-8 hằng năm còn có một ý
nghĩa rất đặc biệt. Đa số ngày tháng của các ngày lễ trong Kitô giáo đều
bắt nguồn từ những ngày lễ ngoại giáo. Lễ Giáng sinh chẳng hạn, không gì
khác hơn là lễ của thần mặt trời của đế quốc La-mã được rửa tội lại theo Kitô
giáo mà thôi.
Đây không phải là trường hợp của
Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Đế quốc La-mã vốn dành ngày đầu tháng tám để
tôn vinh hoàng đế. Trong khi đó lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được cử hành
vào ngày 15-8. Như vậy lý do chọn ngày 15-8 để cử hành lễ Đức Mẹ Hồn Xác
Lên Trời không bắt nguồn từ đế quốc La-mã, mà từ chính Giêrusalem cổ.
Trước thời hoàng đế
Constantinope, trong ngày này đã diễn ra một cuộc lễ trong nhà thờ trên núi cây
dầu tại Jerusalem. Truyền thống đã gọi lễ này là lễ Đức Mẹ an giấc.
Trong đế quốc La-mã ngoại đạo,
không có bất cứ nguồn gốc nào về ngày lễ này đã đành, mà kể từ đó về sau cũng
chẳng có đế quốc nào xóa bỏ hay thay thế được lễ này. Những cố gắng vô
ích của một hoàng đế Napoléon của Pháp là một bằng chứng.
Ngày 15-8-1769 tại Ajaccio đảo
Corse chào đời một đứa bé mà cha mẹ đã đặt cho một tên hiếm có là
Napoléon. Nếu ngày 15-8-1637 vua Louis XIII đã ban hành một sắc lệnh để đặt
toàn nước Pháp dưới sự che chở của Mẹ Maria thì năm1806 sau khi đã đăng quang
làm hoàng đế của nước Pháp và khắp Âu Châu. Napoléon tước đoạt mọi
danh dự dành cho Mẹ Thiên Chúa, để biến thành một ngày lễ dành riêng cho ông.
Sinh trùng vào ngày 15-8, Napoléon
bắt toàn dân nhớ đến ngày sinh của ông là điều dễ hiểu, là ngày được cha mẹ đặt
tên cho là Napoléon. Ông đã cố lục lọi trong danh sách các thánh
trong Giáo hội tìm cho bằng được một vị thánh có tên là Napoléon.
Với sự đồng ý của một vị giám mục
cung đình, ông đã tìm được mục danh sách các vị tử đạo Rôma, trong đó có một vị
tên là Néopoli. Không rõ do những lèo lái như thế nào mà cuối cùng cả
triều đình của ông đều đồng thanh nhận á thánh Néopoli với tên gọi Napoléon của
ông. Vậy là ngày 15-8 không những là ngày sinh nhật của ông mà còn
là ngày lễ bổn mạng của ông nữa.
Danh dự đã dành cho Mẹ Thiên
Chúa được ông hoàng đế này đương nhiên chiếm đoạt. Tại Roma, Đức
Giáo Hoàng Piô VII tuyên bố rằng : “Việc quyền bính thế tục thay thế việc tôn
kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời bằng việc tôn kính một vị thánh không có tên trong
lịch Phụng vụ là điều không thể chấp nhận được”.
Đây là một hành động xen lấn
không thể dung thứ và chấp nhận được, không thể lấy thế quyền thay cho thần quyền. Nhưng
vì những hành động của bạo chúa Napoléon quá tàn nhẫn, cho nên bức kháng thư đã
không được công bố. Tột cùng hành động ngang ngược của Napoléon là
ra lệnh đưa Đức Giáo Hoàng về giam giữ tại Fontainebleau bên Pháp.
Dĩ nhiên, rồi cuối cùng Trái Tim
Mẹ vẫn thắng, sự cáo chung của đế quốc do Napoléon dựng nên cũng chấm dứt việc
chiếm đoạt danh dự dành cho Mẹ Maria. Vị thánh Napoléon được
Napoléon tự phong cũng tự ý rút lui để trả ngày 15-8 lại cho Mẹ Thiên Chúa. Điều
kỳ diệu mà Mẹ Maria đã thực hiện là việc tôn kính vị thánh Napoleon do những kẻ
dua nịnh bịa đặt ra hơn là đòi hỏi của lịch sử đã để lại một hậu quả không lường
được. Đó là kể từ ngày đó 15-8 hằng năm đã biến thành một ngày lễ buộc
trên toàn nước Pháp.
Trên đây là một trong những vị dụ
cho thấy những sự vụng về kỳ lạ của lịch sử, qua đó người ta thấy được sự hiện
diện kín đáo nhưng vô cùng hữu hiệu của Mẹ Thiên Chúa. Kẻ quyền thế
muốn tước đoạt danh dự của Mẹ Maria đã bị hạ xuống khỏi tòa cao, như Mẹ đã tiên
báo trong kinh Magnificat.
Ngày nay sau bao nhiêu thăng trầm
của lịch sử, nước Pháp vẫn tiếp tục đóng cửa nghỉ ngày 15-8 để tôn vinh Mẹ
Maria. Danh vọng hão huyền mà một hoàng đế Napoléon đeo đuổi bằng
cách hạ bệ Mẹ Thiên Chúa đã không kéo dài quá tám năm. Kể từ tháng
3-1814 sau khi hoàng đế Napoléon thoái vị và bị đày ra đảo Sante Hélène để sống
những ngày còn lại của ông. Trong ăn năn sám hối, tên tuổi của ông vẫn được
tiếp tục nhắc đến như một thiên tài cũng có, mà như một kẻ ngông cuồng thì nhiều
hơn.
Trong khi đó Mẹ Maria vẫn tiếp tục
ngự trị trong lòng người dân Âu châu, mặc dù họ có muốn tục hóa đến đâu đi nữa,
thì trong lịch sử hàng năm của họ vẫn còn những dấu ấn không bao giờ tàn phai của
Mẹ Thiên Chúa. Mãi mãi như Mẹ đã tiên báo trong kinh Magnificat: “Từ
nay muôn thế hệ sẽ khen tôi là người có phúc”.
Sưu tầm
Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014
Điệp khúc Kính Mừng
VRNs (07.04.2014) – Sài Gòn
Năm mươi hạt ngọc Mai Côi
Năm mươi kinh nguyện, năm mươi đóa hồng
Hồng ân nối kết Thiên đường, trần gian
Vang lời Thiên sứ truyền tin
Vọng lời Giáo hội cầu xin không ngừng
Thiêng liêng điệp khúc “Kính Mừng”
Nhắc con cố gắng “xin vâng” sớm chiều
Mỗi ngày dâng kính Mẹ Yêu
Lời kinh diễm lệ vút cao tới Trời
Xin thương nâng đỡ, Mẹ ơi!
Đời con đẫm lệ ướt đời oan khiên
Mai Côi chuỗi ngọc dâng lên
Là hoa lòng kiếp phàm nhân lữ hành
Đưa con tới Chúa Chiên Lành
Để con ngơi nghỉ an bình, Mẹ ơi!
TRẦM THIÊN THU
Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn khai mạc tháng hoa kính Đức Mẹ
VRNs (05.05.2014) – Sài Gòn- Cứ mỗi độ tháng Năm về, muôn hoa tỏa hương khoe sắc, Hội Thánh mời gọi con cái mình dâng lên Đức Mẹ những đóa hoa lòng: hoa nguyện cầu, hoa yêu thương, hoa hy sinh, hoa hiệp nhất, hoa thánh thiện bởi Mẹ là Mẹ của muôn hoa, là Nữ Vương muôn loài. Trong tâm tình đó, sau thánh lễ chiều thứ Bảy, vào lúc 19h30, ngày 03.05.2014, Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn khai mạc tháng hoa dâng kính Đức Mẹ, với sự tham dự đông đảo của các tín hữu trong và ngoài giáo xứ.
Để chuẩn bị cho 50 phút dâng hoa kính Đức Mẹ, hai xóm giáo 2 và 7 đã miệt mài tập luyện trước đó hơn cả tháng, mỗi tuần hai đêm. Thành phần dâng hoa đa số là những anh chị em đã có gia đình, số lượng người trẻ khá khiêm tốn. Không ai không vướng víu với công việc, với gia đình. Thế nhưng khi được cha Đặc trách xóm mời gọi, anh chị em đã nhiệt tình hưởng ứng tham gia tập dợt. Nhìn vào hàng ngũ dâng hoa “có tuổi” có lẽ ai cũng hiểu được đó là những bông hoa dệt nên từ những hy sinh, nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất yêu thương và tinh thần hăng say phục vụ của một số anh chị em trong giáo xóm.
Với chủ đề Gia Đình Dâng Mẹ Ngàn Hoa trong năm Tân Phúc Âm Hóa Gia Đình càng ý nghĩa, thu hút sự chú ý của mọi người.
Mở đầu giờ dâng hoa Cha Bề trên chánh xứ, cha Đặc trách hai xóm giáo cùng với anh chị em trong đội dâng hoa long trọng rước Đức Mẹ tiến vào thánh đường giữa hoa và nến sáng, ca đoàn hát vang lời ca Kìa Bà nào đang tiến lên như rạng động, đẹp như mặt trăng rực rỡ như mặt trời, oai hùng như đạo binh xếp hàng vào trận, Bà là ai?”. Sau đó cha Bề trên Giuse Hồ Đắc Tâm tuyên bố giờ dâng hoa bắt đầu. Ngài cho biết Mẹ là mẹ của ngàn hoa. Mỗi người là một loài hoa, mỗi màu hoa, tháng Mười và tháng Năm là dịp Hội thánh mời gọi chúng ta hái dâng về Mẹ những đóa hoa lòng.
Sau tiết mục dâng hương các chị “ đứng tuổi” trong năm màu áo tượng trưng cho năm màu hoa, trắng vàng, xanh, tím,đỏ dâng hoa mừng kính Mẹ. Hàng trăm ánh mắt đổ dồn về phía Đức Mẹ sau tiết mục dâng hoa khép lại, các chị em dâng những giỏ hoa rực rỡ xinh tươi quanh bệ ngọc Mẹ ngự.
Nhìn từng cử chỉ, bước di chuyển nhịp nhàng đều đặn của những người dâng hoa, ai cũng có thể nhận ra họ đã tập luyện khá là công phu. Nhất là tiết mục múa quạt diễn họa theo lời bài hát “kính mừng Nữ Vương, Nữ Vương Hòa Bình… đây muôn tâm hồn thao thức. Dân con đất Việt náo nức cùng cất tiếng ca mừng vui, cất tiếng ca kính mừng Nữ Vương Hòa Bình…” có lẽ không một tâm hồn nào yêu mến Mẹ mà không cảm thấy lâng lâng theo nhịp vỗ của những chiếc quạt lên xuống, uyển chuyển nhịp nhàng và rất đỗi thiết tha.
Kết thúc giờ dâng hoa, các anh chị em trong đội múa đã quây quần bên nhan Mẹ, dâng lên Đức Mẹ đôi bàn tay của những người cha người mẹ, người vợ người chồng dầm mưa dãi nắng trên phố chợ, nơi công sở, xí nghiệp gói trọn tấm lòng thành, cùng hát chung lời ca “ Ave Maria con dâng lời chào Mẹ, khi tan màu nắng chiều và khi sương đêm nặng gieo, con say sưa lời ca chào Ave Maria…” trong màn đêm buông xuống thật lung linh diệu huyền.
Một gia đình trẻ với hai con thơ hình ảnh tượng trưng cho Năm Tân Phúc âm Hóa Gia Đình cùng tiến lên dâng gia đình cho Đức Trinh Nữ Maria – Nữ Vương của mọi gia đình.
Chắc có lẽ bất cứ ai tham dự giờ dâng hoa ra về cũng mang theo những ấn tượng khó phai, cảm thấy lửa yêu mến Đức Mẹ như hối thúc tâm tư và ước mong đời mình mãi là ngàn hoa dâng về Mẹ.
Không chỉ một tuần mà có đến bốn tuần, cứ sau thánh lễ chiều thứ Bảy trong tháng Năm các giáo xóm còn lại sẽ tiếp tục dâng hoa. Dâng hoa là cơ hội tuyệt vời để chúng ta bày tỏ lòng thành kính mến yêu Mẹ. Mong sao đừng ai bỏ lỡ giây phút tuyệt vời này để hiện diện với Đức Mẹ trong giờ dâng hoa của giáo xứ. Chắc chắc sẽ còn nhiều tiết mục dâng hoa Kính Đức Mẹ không kém phần trang nghiêm lộng lẫy đang đợi chờ con cái Mẹ tìm đến với Mẹ Hằng Cứu Giúp,bởi Mẹ rất đỗi dịu hiền, gần gũi thiết thân với mỗi người chúng ta.
Pv.VRNs
Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014
Kinh nghiệm kinh Mân Côi
Thánh Năm lại về, tháng kính Đức Mẹ, chúng ta có thói quen tốt lành là truyền thống dâng hoa, và tháng Năm được gọi là Tháng Hoa, đồng thời chúng ta cũng siêng năng lần Chuỗi Mân Côi theo mệnh lệnh của Đức Mẹ truyền qua ba trẻ ở Fatima (Bồ Đào Nha). Kinh Mân Côi là những đóa hồng thiêng dâng kính Đức Mẹ. Chúng ta có thể lần Chuỗi Mân Côi trước hoặc sau Thánh Lễ, hoặc vào một thời điểm khác. Tháng Hoa cũng nhắc nhở các gia đình nên tái lập thói quen cầu nguyện chung trong gia đình, đặc biệt là trong Năm Phúc Âm hóa Gia đình 2014 này.
Kinh Mân Côi là cuốn Phúc Âm rút gọn, với các màu sắc khác nhau: Vui, Thương, Mừng, và Sáng. Kinh Kính Mừng có sức mạnh kỳ lạ. Nửa đầu là lời Sứ thần Ga-bri-en báo Tin Vui cho Trinh Nữ Maria là được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Thiên Chúa. Nửa sau là lời cầu nguyện của Giáo hội: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, KHI NAY và TRONG GIỜ LÂM TỬ. Đây là lời cầu mạnh mẽ. Hy vọng của chúng ta là được vào Thành Thánh Giêrusalem trên trời.
Lm. Patrick Peyton, người được người ta gọi là “linh mục Mân Côi”, nói: “Gia đình cầu nguyện với nhau thì sống hạnh phúc với nhau”. Một nhận xét chính xác và thú vị. Lần Chuỗi Mân Côi chung với nhau trước khi đi ngủ thì thật là tốt lành biết bao! Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã nói: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18:20).
Khi đọc kinh tối chung như vậy, con cái học được cách cầu nguyện chung trong gia đình, gia đình trở nên Giáo hội tại gia. Lần Chuỗi Mân Côi chung trong gia đình là một thói quen tốt lành, đáng khích lệ, nhưng thật đáng buồn khi người ta càng ngày càng bỏ thói quen tốt lành này. Họ đưa ra nhiều lý do để “biện hộ” cho mình, cho rằng cuộc sống ngày nay quá bận rộn!
Ai muốn thì tìm ra phương tiện, ai không muốn thì tìm ra lý do. Đúng vậy, thật ra dùng bận rộn tới đâu thì cũng vẫn có thể cầu nguyện hoặc lần Chuỗi Mân Côi. Khi đi xe trên đường, không gì ngăn cản chúng ta không thể lần Chuỗi Mân Côi. Ngay cả khi làm việc, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện hoặc lần Chuỗi Mân Côi.
Chắc hẳn mỗi người đều có kinh nghiệm khác nhau về Kinh Mân Côi. Đến với Kinh Mân Côi, chúng ta sẽ có những kinh nghiệm tuyệt vời. Cứ đọc Kinh Mân Côi dù bạn chưa thấy thú vị. Đọc rồi sẽ quen, quen rồi sẽ thích, sẽ thấy “thiếu” khi bạn không đọc Kinh Mân Côi. Có thể mới đầu chỉ là “đọc”, đọc như vẹt, nhưng rồi ơn Chúa sẽ biến đổi chúng ta nếu chúng ta thật lòng muốn cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi. Và chắc chắn Đức Mẹ sẽ giúp chúng ta khi chúng ta cố gắng yêu mến Mẹ, muốn dâng những đóa hoa thiêng lên Mẹ bất cứ lúc nào, dâng cả đời, nhất là trong tháng Năm này. Đó cũng là cách chúng ta cố gắng hoàn thiện để nên thánh ngay trên thế gian này.
Thánh giám mục Phanxicô Salê (Francois de Sales) khuyên nhủ: “Đừng bao giờ lo buồn vì sự bất toàn của mình, nhưng phải luôn can đảm đứng dậy sau khi vấp ngã”.
Lạy Đức Mẹ, xin thương nâng đỡ, hướng dẫn, nguyện giúp cầu thay cho chúng con, và dẫn chúng con đến với Chúa Giêsu. Amen.
TRẦM THIÊN THU (Lược dịch từ IgnitumToday.com)
Tháng Năm – 2014
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)






