CHÂN THIỆN MỸ MẾN CHÀO CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM
Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Ngày 23/9: Thánh Piô Piêtrelcina, linh mục





Thánh Piô Piêtrelcina, linh mục

Thánh Piô Piêtrelcina tên thật là Phanxicô Forgiône. Phanxicô Forgiône sinh ngày 25 tháng 5 năm 1887 gần thành Napôli nước Ý. Song thân ngài rất nghèo khó và rất vất vả. Từ thơ ấu, Phanxicô Forgiône đã có một lòng yêu thích cầu nguyện sâu xa và một lòng khát khao nên thánh mãnh liệt.
Khi Phanxicô Forgiône lên 10, có một linh mục dòng Phanxicô Capuxinô tới Piêtrelcina. Phanxicô bị ấn tượng bởi lòng đơn sơ và khiêm nhường của ngài. Và Phanxicô quyết tâm rằng một ngày kia cũng sẽ là một linh mục dòng Capuxinô. Để giúp cho ước mơ của con thành sự thật, thân phụ của Phanxicô đã trẩy sang nước Mỹ tìm việc làm và kiếm tiền cho Phanxicô ăn học.
Vào ngày mùng 6 tháng 1 năm 1903, Phanxicô Forgiône gia nhập dòng Capuxinô ở Morcôn. Phanxicô nhận tên là Piô. Vào năm 1910, Piô được thụ phong linh mục. Vì sức khỏe yếu kém, các bề trên tưởng là sẽ tốt hơn nếu để Piô sống một thời gian tại quê nhà. Và Piô được chỉ định về giúp cha xứ tại giáo xứ quê nhà. Chính thời gian này cha Piô nhận được một ơn đặc biệt. Để nên giống Đức Chúa Giêsu Tử Giá hơn, Piô bắt đầu cảm thấy những dấu đinh của Chúa ẩn trong tay và chân và vết thương của lưỡi đòng trong cạnh sườn mình. Sau một thời gian, các vết thương này xuất hiện thường xuyên hơn, nhưng vẫn vô hình. Vào ngày 20 tháng 9 năm 1918, năm Dấu Thánh này tỏ lộ ra bên ngoài và kéo dài suốt 50 năm sau cho tới lúc cha Piô qua đời.
Sau bảy năm sống ở Piêtrelcina, cha Piô được gởi đến đan viện Capuxinô ở Foggia. Cha cảm thấy rất hạnh phúc vì sau cùng cha cũng được ở với các anh em tu sĩ Phanxicô. Và cộng đoàn cũng vui mừng vì có sự hiện diện của cha, bởi Piô luôn vui tính và hóm hỉnh. Cha Piô bắt đầu ban bí tích Hòa giải và chẳng bao lâu từng nhóm đông người đã kéo đến xin cha lời khuyên bảo.
Vào tháng 7 năm 1916, các bề trên của cha Piô gởi cha tới San Giovanni Rôtônđô, một ngôi làng hẻo lánh để cha được hưởng chút yên tĩnh. Ở đây, sức khỏe của Piô được bình phục, và Piô cũng được Thiên Chúa ban cho những ơn lạ. Cha Piô đọc được tâm hồn của người khác, thậm chí cha có thể giúp họ xưng tội bằng cách nhắc họ nhớ lại những chi tiết mà cha nghe được từ nơi Thiên Chúa. Cha Piô cũng có ơn lưỡng tại (tức khả năng hiện diện ở hai nơi khác nhau trong cùng một lúc), và năm Dấu Thánh của cha tỏa ra một mùi thơm của hoa hồng và hoa tím.
Các bề trên của cha Piô đã hỏi cha những đặc ân này là có thực hay không, vì nếu như đó là trò chơi khăm thì Piô sẽ bị cấm dâng lễ công khai và cấm giải tội. Đây quả là một thánh giá nặng đối với Piô, nhưng cha Piô đã chấp nhận nó như một dịp để được nên giống Đức Chúa Giêsu. Một thời gian sau, cha Piô lại được phép cử hành các bí tích, và một lần nữa, rất đông người lại chen chúc nhau trong nhà thờ để xem cha Piô dâng thánh lễ cũng như xếp hàng để được xưng tội với ngài. Thông thường, mỗi ngày cha Piô giải tội cho trên 100 hối nhân.
Cha Piô đã dùng hầu hết cuộc đời linh mục của ngài để ban bí tích Hòa giải và khuyên bảo cùng động viên vô số bổn đạo đến từ khắp các nơi trên thế giới. Cha đã phục vụ như vậy cho tới khi về trời ngày 21 tháng 9 năm 1968. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn cha Piô Piêtrelcina lên bậc hiển Thánh năm 2002.


Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

An Phong – Ngọn Gió Lành


http://www.chuacuuthe.com/2014/08/an-phong-ngon-gio-lanh/
image001
VRNs (02.08.2014) – Khi đặt thanh gươm hiệp sĩ của mình dưới bàn thờ “Đức Bà chuộc kẻ làm tôi”, Thánh An Phong đã quyết định con đường dấn thân của mình theo một khúc quanh mới, thuộc về Chúa hoàn toàn để thuộc về người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả.
Từ giã pháp đình, An Phong cũng từ giã giấc mơ đấu tranh giành lấy công bằng cho người nghèo bằng con đường luật pháp. Bỏ thanh gươm, An Phong từ chối can thiệp vào xã hội bằng quyền lực. Nhận lấy chiếc áo Giáo Sĩ, An Phong chọn con đường Tin Mừng.
Chẳng phải khi trở thành Linh Mục hoặc khi thiết lập DCCT vào năm 1732 thì An Phong mới có cảm thức về người nghèo, về sự áp bức và về sự công bằng, nhưng ngay khi còn đang đeo đuổi con đường luật học, An Phong đã đưa ra những quyết tâm thuộc về người nghèo, thuộc về công lý và công bằng. Quyết tâm không cãi trắng ra đen, chọn lựa người nghèo mà bênh vực, đó là những quyết tâm của luật sư An Phong nơi pháp đình của vương quốc Napoli.
“Hỡi thế gian, ta đã biết mi”, trên đường rời bỏ pháp đình, An Phong kinh nghiệm được sự giới hạn của con người. Luật pháp có công minh cách mấy cũng không đủ sức thắng sự dữ. Cái mỉa mai là luật pháp được biên soạn và ban hành bởi những kẻ cầm quyền thì làm sao lại có thể đứng về phía người nghèo, người bị áp bức được ? An Phong chọn Tin Mừng là “bộ luật” được biên soạn và ban hành bởi người nghèo cùng cực. An Phong nhận ra Thiên Chúa hóa thân nơi người nghèo, nên “bộ luật” này là bộ luật của người nghèo, người đau khổ, người hèn mọn. “Điều gì các ngươi làm cho người bé mọn nhất đó là làm cho chính Ta” ( Mt 25 ).
Chọn người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả, An Phong dấn thân thuộc trọn vẹn về người nghèo, đồng thân đồng phận với người nghèo, hòa mình sống kiếp nghèo. Bỏ giới thượng lưu, An Phong bỏ phong cách quý tộc, chọn lấy nếp sống giản dị, lối cư xử đơn sơ, mộc mạc. Cấm anh em mình ăn nói hoa mỹ, cấm anh em mình đem kiến thức lòe bịp thiên hạ, An Phong chia sẻ với anh em cách ăn nói bình dị, chữ nghĩa bình dị, “hãy nói sao cho người bình dân hiểu”. ( Ảnh chụp Đền kính Thánh An Phong tại đường Merulana ở Roma, ngay bên cạnh là Nhà Dòng Mẹ ).

image003
Bỏ pháp đình, An Phong không hề bỏ kiến thức luật học, nhưng chọn Tin Mừng, An Phong phả hồn Tin Mừng vào luật học, viết ra bộ Thần Học Luân Lý. An Phong sử dụng kiến thúc luật học của mình để đứng về phía người nghèo, người bị áp bức. Thời ấy, luật đạo luật đời gần như một, lắm mối liên kết chằng chịt đạo đời rối ren mật thiết. Không chấp nhận quan niệm mục vụ khắt khe cầm buộc, An Phong lên tiếng nói cho người nghèo, người bị bỏ rơi, những hối nhân đáng thương hại, tiếng nói mạnh mẽ không chỉ ngoài xã hội nhưng còn ngay giữa lòng Nhà Thờ. An Phong trả lại trách nhiệm cho lương tâm, cho tình thương, cho sự tha thứ.
An Phong trăn trở và kiên trì cho đến trọn đời, kinh nghiệm nỗi cô đơn trên con đường phục vụ người nghèo, người bị bỏ rơi, An Phong đã cam kết đi đến cùng cho dù chỉ còn một mình. Nỗi cô đơn ấy đã đeo bám An Phong cho đến hết cuộc đời, và An Phong cũng trung tín với lời cam kết cho đến hết hơi thở cuối cùng.
Có rất nhiều luồng gió thổi đến làm rung chuyển thời cuộc, biến hóa nhân sinh, thay cũ đổi mới. An Phong vẫn làm gió, nhưng khi chọn Tin Mừng, ngọn gió của An Phong là gió lành, ngọn gió lành không phá hủy, không tiêu diệt, không tàn phá, nhưng xây dựng, làm mát lòng người, làm phát sinh sự sống và làm cho sự sống thêm dồi dào.
Con cái An Phong có là ngọn gió lành không ?

                                                          Lm. VĨNH SANG, DCCT, Lễ Thánh An Phong 2014

Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

Thánh GRÊGORIÔ VII Giáo Hoàng (1028-1085) 5/25/2013 Ngày 25/5







Thánh Gregoriô hay là Hildebrand theo tên rửa tội, sinh khoảng năm 1028. Gia đình Ngài không thuộc dòng tộc quí phái và có thuộc gốc Do thái. Thấy con mình thông minh lại hiếu học, thân phụ thánh nhân gởi Ngài tới thụ huấn với người chú là Tu viện trưởng Đức Bà Maria ở Aventin, Hildebrand đã trở thành một tu sĩ dòng Bênêdictô.
Tuy nhiên khả năng đặc biệt của Ngài đã sớm kéo Ngài ra khỏi hàng rào tu viện để phục vụ tại giáo triều. Khi đắc cử giáo hoàng, trên đường về nhận chức, Đức Leo IX ghé qua Cluny và dẫn theo thầy dòng trẻ tuổi Hildebrand để làm cố vấn cho mình. Đức giáo hoàng đã trao cho Ngài điều khiển tu viện thánh Phaolô và đặt làm hồng y. Đức giáo hoàng Leo IX là vị tiên khởi trong cuộc cải cách Grêgoriô, danh hiệu dựa vào khuôn mặt sáng giá nhất cuộc cải cách này, nhưng chính đức Leo là người khởi xướng.
Kể từ việc đề cử của Đức Leo IX Hildebrand đã có ảnh hưởng lớn lao trong nhiều triều đại liên tiếp. Khi được cử làm đặc sứ tại Pháp Đức Hồng y Hildebrand, đã chống lại nhiều tập tục xấu. Trong hội đồng họp ở Tour, Ngài đã buộc Berenger từ bỏ những lầm lạc của mình. Thế là chính Ngài đã giữ phần quyết định trong cuộc tranh luận về bí tích Thánh Thể giữa Lanfranc và Berenger. Ngài ủng hộ giáo thuyết về sự biến thể của Lanfranc nhưng cũng giảm bớt sức đối kháng để trình bày cách mầu nhiệm hơn.
Dưới ảnh hưởng của Đức hồng y Hildebrand, chức giáo hoàng ngày càng nghịch với hoàng đế hơn. Một liên minh hình thành với nhiều nhà cai trị ở miền nam nước Ý chống lại các Hoàng đế nhà Hohenstanen. Đức giáo hoàng nâng đỡ phong trào quần chúng chống lại hoàng đế ở Milanô nhưng tâm điểm đường lối chính trị của tòa thánh được diễn tả trong việc chọn lựa Đức Giáo hoàng, dành riêng cho hồng y đoàn. Nói cách khác, ảnh hưởng của hoàng để bị rút lại, nếu không nói là bị hủy bỏ. Năm 1073 dưới ảnh hưởng đã trở nên lớn mạnh, Đức Hồng y Hildebrand đắc cử giáo hoàng với hiệu Gregoriô VII.
Tình hình Giáo hội lúc này thật đáng buồn với nhiều thảm trạng đang diễn ra. Đích thân giáo hoàng thấy rõ những điều đó, sống khắc khổ như một thầy dòng, Ngài đã sáng ngời như mặt trời chiếu dãi vào ngôi nhà Giáo hội. Đầy uy quyền trong lời nói và việc làm, Ngài đã nỗ lực tái lập kỷ lục truyền bá đức tin, diệt trừ các lỗi lầm. Nhất là Ngài được chống lại hoàng đế Henri IV nước Đức. Ông hoàng này ham mê khoái lạc và tham lam, đã dám bán quyền giám mục và các chức vụ trong Giáo hội cho những người bất xứng.
Năm 1075, Đức Gregoriô VII đã tuyên bố phạt mọi người ở bất cứ địa vị nào dám dùng tiền để mua bán chức thánh. Với tình phụ tử, Ngài cảnh cáo hoàng đế Henri IV và các lạm quyền của ông. Tức giận ông bắt cóc Đức Giáo hoàng đang khi Ngài làm lễ và giam ngục. Nhưng rồi dưới áp lực của dân Roma, ông phải thả Ngài ra. Đức giáo hoàng đã tha thứ cho ông. Tuy nhiên nhà vua vẫn ngoan cố. Năm 1076, ông triệu tập một số giám mục rồi đặt Gnibert de Ravenna làm giáo hoàng. Đức Gregoriô VII liền ra vạ tuyệt thông Henri IV. Hối hận và sợ các quan bất phục, Henri IV lo giữ ngôi bằng cách đến Canossa làm việc đền tội.
Ngày 28 tháng giêng năm 1077, Đức giáo hoàng giải vạ cho ông.
Một thời gian sau Henri IV lại trở mặt, ông cầm quân sang Roma để bắt Đức Giáo hoàng. Nhưng Đức Gregoriô đã kịp thời rút lui về Sôlerna và qua đời tại đây năm 1085. Trước khi qua đời Ngài đã nói: - Ta yêu mến điều công chính và chê ghét sự gian tà nên mới phải chết ở chốn lưu đày này.
Người ta đã nói tới cuộc cải cách thời Gregoriô. Phải nhận định rằng ý tưởng của Ngài rất cao thượng, Ngài quan niệm hàng giáo sĩ được đặt ra ngoài mọi người khác bởi phép truyền chức thánh làm thành một cộng đoàn siêu nhiên ấn định bởi quyền ban bí tích và được cai quản bởi đấng kế vị thánh Phêrô. Họ phải sống xứng đáng với phận vụ thiêng liêng, Ngài nhiệt hành ủng hộ luật độc thân của giáo sĩ và chống lại mọi thứ buôn thần bán thánh.
Ngài cũng nỗ lực diệt trừ mọi can thiệp vào việc chọn giám mục, nhất là sự can thiệp của hoàng đế. Dầu không thành công trong việc này, nhưng chắc chắn đã làm thay đổi thái độ của mọi người đối với Giáo hội.
Sau khi đã từ trần, lý tưởng canh tân Giáo hội của Ngài mới rõ rệt hơn, sắc bén hơn và tiến gần tới hiện thực hơn.

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Đang truyền hình trực tiếp lễ tuyên phong hiển thánh cho Đức Gioan XXIII và Gioan Phaolô II

http://www.chuacuuthe.com/2014/04/1430-hom-nay-xem-truyen-hinh-truc-tiep-le-tuyen-phong-hien-thanh-cho-duc-guoan-xxiii-va-gioan-phaolo-ii/

Tiểu sử hai vị Thánh Giáo Hoàng qua chùm ảnh


Nguồn; http://www.chuacuuthe.com/2014/04/tieu-su-duc-gioan-xxiii-qua-anh/

VRNs (27.4.2014) – Sài Gòn – Tổng hợp từ  The Catholic Herald Facebook, VRNs giới thiệu với đọc giả tiểu sử hai vị Giáo hoàng mà hôm nay được Đức Phanxicô tuyên phong hiển thánh trong thánh lễ tại quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Gioan XXIII:


10177332_10202035389834703_662178305532220586_n
1. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tên khai sinh là Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881. Ngài là người con thứ tư trong gia đình có mười bốn đứa con. Cha mẹ ngài là những tá điền sống trong một ngôi làng ở Lombardy, Italia.


10250270_10202035404795077_4473759709901702313_n
 2. Sau khi hoàn tất tốt đẹp năm thứ hai của thần học vào tháng Bảy năm 1900, thì vào tháng Giêng năm sau, thầy được gửi về Roma vào chủng viện Apollinare, nơi có một số học bổng cho hàng giáo sĩ thuộc giáo phận Bergamo. Tuy phải thi hành nghĩa vụ quân sự tại Bergamo từ ngày 30 Tháng 11 1901, việc huấn luyện chủng sinh cũng đặc biệt mang lại kết quả tốt đẹp. Ảnh chụp năm 1901, khi đó ngài 20 tuổi. Ảnh© Corbis. All Rights Reserved.

10251909_10202035405915105_176276278800188748_n
3. Vào năm 1925, với sự bổ nhiệm làm Đại diện Tòa Thánh tại Bulgaria, ngài đã bắt đầu giai đoạn phục vụ cho ngành ngoại giao của Tòa Thánh cho đến năm 1952. Sau lễ phong chức giám mục diễn ra tại Rome vào ngày 19 tháng 3 năm 1925, ngài khởi hành đi Bulgaria với nhiệm vụ giúp đỡ cho cộng đoàn Công giáo nhỏ bé và đang gặp nhiều khó khăn tại đó. Khởi đầu công việc và tiếp tục cả hàng chục năm, Đức cha Roncalli đã đặt nền móng cho việc thiết lập một Tông Tòa mà ngài đã được bổ nhiệm làm vị đại diện đầu tiên vào năm 1931. Ảnh chụp năm 1926, một năm sau khi ngài được thụ phong chức giám mục.

1511408_10202035406475119_5278074687766474299_n
4. Ảnh chụp vào một lúc nào đó giữa năm 1939 và năm 1958

10270537_10202035407155136_5539725823786149894_n
5. Chân phước Gioan XXIII cầu nguyện sau khi được bầu làm vị kế nhiệm thánh Phê-rô. Ở tuổi 76, ngài là vị giáo hoàng nhiều tuổi nhất được bầu trong vòng hơn 200 năm qua.

10268632_10202035408195162_151289823190751408_n
6. Chân phước Gioan XXIII trong khu vườn Vatican. Không xác định được ngày chụp
10314762_10202035409115185_2785538786871294865_n
7. Chân phước Gioan nổi tiếng về sự nồng hậu, đơn sơ, tính hài hước
10176159_10202035410155211_6123700361745554459_n
8. Thi hài chân phước Gioan XXIII trong lễ tang tháng 1/ 1963 tại quảng trường thánh Phê-rô

Đức Gioan Phaolô II:


10308143_10202035411555246_1500295170828302118_n
1. Cậu bé Karol Józef Wojtyła sinh vào ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan, cách Kraków 50 cây số. Là con út trong một gia đình có ba người con, cô chị chết từ khi còn nhỏ. Cha ông là Karol Wojtyla một cựu sĩ quan trong quân đội Habsburg và mẹ là Emilia Kaczorowka.
10154119_10202035413035283_4496784085756557492_n
2. Kỷ niệm rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi
 10168050_10202035413315290_8541692623011976133_n
 3. TGM Karol Wojtyla of Krakow nhận mũ Hồng y từ tay Đức Phao-lô VI tại nhà nguyện Sistine ngày 26/6/1967.
10155482_10202035414395317_2491137017232499278_n
4. Đức Gioan Phaolô II ra mắt các tín hữu từ ban công quảng trường thánh Phê-rô ngay sau mật nghị hồng y ngày 16/10/1978. Đức Hồng y Karol Jozef Wojtyla của Ba Lan không được biết đến nhiều trong giáo hội đã được chọn làm Giáo Hoàng. Lúc đó ngài 58 tuổi. Ảnh CNS
 10306737_10202035415675349_2776685848319335894_n
5. Đức Gioan Phao-lô II bị bắn vào ngực ngày 13/5/1981 tại quảng trường thánh Phê-rô. Thủ phạm là tay súng người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Mehmet Ali Agca, theo L’Osservatore Romano
10246482_10202035416915380_545017750999234995_n
6. Đức Gioan Phao-lô II bước ra từ một căn lều để cử hành thánh lễ tại sân vận động Parakou, Benin năm 1993. Đây là chuyến tông du thứ 104 của ngài.
 1969295_10202035417355391_7455840057798286186_n
7. Tổng thống Mỹ Bill Clinton đứng cạnh Đức Gioan Phao-lô II trong buổi chào đón tại Denver ngày 12/8/1993.
10253991_10202035418315415_6435414367337297020_n
8. Dân chúng khóc khi thi hài Đức Gioan Phao-lô II được di chuyển tới quảng trường Thánh Phê-rô ngày 4/4/2005.
Tổng hợp, Jos. Đức Trung

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Đức Giáo Hoàng Phanxicô công nhận ba vị Thánh mới của Châu Mỹ


nGUỒN: http://www.chuacuuthe.com/2014/04/duc-giao-hoang-phanxico-cong-nhan-ba-vi-thanh-moi-cua-chau-my/

VRNs (10.4.2014) –  Sài Gòn – CNA cho biết, trong số những vị thánh được Đức giáo hoàng Phanxicô ghi nhận vào hôm thứ Năm có ba chân phước đều từ Châu Âu, nhưng các ngài được gọi là những vị thánh của Tân Thế Giới vì sự nghiệp truyền giáo của các ngài.
Thánh Jose de Anchieta, "Vị Tông Đồ của Brazil," là một trong ba vị được tuyên thánh ngày 03. 4 .2014. Ảnh catholicnewsagency
Thánh Jose de Anchieta, “Vị Tông Đồ của Brazil,” là một trong ba vị được tuyên thánh ngày 03. 4 .2014. Ảnh catholicnewsagency
Trong buổi hội kiến với Đức Hồng Y Angelo Amato, Tổng Trưởng Bộ Tuyên Thánh vào ngày 3 tháng Tư, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mở rộng lễ kính của ba vị Chân phước lên mức toàn thể Hội Thánh hoàn vũ phải mừng kính, một quá trình được biết đến như ‘tương đương với việc tuyên thánh’.
Ba vị thánh kể trên đó là thánh Francois de Laval de Montmorency, Giám mục đầu tiên của Quebec; thánh Jose de Anchieta, ‘Vị Tông đồ của Brazil’; và thánh Marie Nhập Thể, Đấng sáng lập tu viện Ursuline ở Quebec.
Thánh Jose de Anchieta đã đặt nền móng cho nhiều thành phố ở Brazil, trong đó có Sao Paulo. Ngài sinh ra ở đảo Canary, Tây Ban Nha vào năm 1534 và từng học ở trường Cao đẳng dòng Tên tại Coimbra, Bồ Đào Nha. Ngài gia nhập dòng Tên vào năm 1550 và đến Brazil ba năm sau đó.
Ngài xây dựng nhiều nhà thương và học viện giáo dục, với mục đích chính là để dạy dỗ và bảo vệ người dân bản địa Brazil. Ngài từng phục vụ trong cương vị Bề trên dòng Tên tỉnh Brazil trong 10 năm. Ngài mất vào 09/06/1597.
Thánh Francois de Laval sinh tại Pháp vào năm 1623, ngài là một nhà thừa sai tại Canada. Ngài được phong chức Giám mục năm 1658. Một năm sau đó, ngài đến Tân Pháp Quốc trong vai trò là vị Giám mục đầu tiên nơi này.
Ngài từng đi xuyên lãnh thổ rộng lớn Canada với giày đi tuyết và xuồng. Ngài là người thành lập chủng viện Quebec, và đã trải qua hai thập kỷ đấu tranh chống lại nạn buôn bán rượu giữa người định cư Pháp và người châu Mỹ bản địa.
Ngài mất năm 1708 ở tuổi 85. Thánh tích của ngài hiện được lưu giữ tại Nhà thờ Chính tòa Đức Bà Quebec
Thánh Marie Nhập Thể sinh năm 1599 tại Tours, Pháp. Ngài góa chồng năm 32 tuổi, và có một con trai 13 tuổi. Sau cái chết của chồng, ngài trở thành một nữ tu. Năm 1639, ngài đến Tân Pháp Quốc, và trở thành Mẹ Bề trên của tu viện Ursuline. Ngài mất ở Quebec năm 1672.
Theo Wikipedia tiếng Việt, Nouvelle-France hay Tân Pháp Quốc là vùng thuộc địa của thực dân Pháp ở Bắc Mỹ kéo dài trong một dai đoạn từ khi Jacques Cartier phát hiện ra sông Saint Lawrence năm 1534, tới khi Nouvelle-France bị nhượng lại cho Đế quốc Anh và Tây Ban Nha năm 1763.
Trong thời điểm đỉnh cao (trước Hiệp ước Utrecht), lãnh thổ của Nouvelle-France trải dài từ Newfoundland tới dãy núi Rocky, từ Vịnh Hudson tới Vịnh Mexico. Vùng lãnh thổ này được chia làm năm thuộc địa, mỗi thuộc địa có một chính quyền riêng, bao gồm: Canada, Acadia, Vịnh Hudson, Newfoundland và Louisiana.
Ba vị thánh mới đã được Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II phong Chân phước vào năm 1980.
Cũng tại buổi hội kiến ngày 03/04, Đức giáo hoàng Phanxico đã công nhận các phép lạ qua lời chuyển cầu của Tôi tớ Chúa Giovanni Antonio Farina; Chân phước Kuriacose Elias Chavara; Chân phước Nicola da Longobardi; Chân phước Euphrasia của Thánh Tâm Chúa Giêsu; và Tôi tớ Chúa Luigi della Consolata.
ĐGH cũng công nhận nhân đức anh hùng của những vị Tôi tớ Chúa sau: Francisco Simon Rodenas; Adolfo Barberis; Marie-Clement; Sebastian Elorza Arizmendi; Maria Teresa của Thánh Thể Chúa Giêsu; Clara de la Concepcion; Maria Magdalena; và Luigi Rocchi.
PV.VRNs

Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

Thánh GIOAN LASAN Linh Mục (1651-1719) và Phêrô NGUYỄN VĂN LỰU, Linh mục (1812-1861)

Thánh Gioan Lasan là bổn mạng của các nhà giáo dục, Ngài được thành công trong việc cung ứng một hệ thống giáo dục cho quảng đại quân chúng vào thời mà dân nghèo như bị bỏ rơi hoàn toàn. Nỗ lực của Ngài không phải chỉ trong việc mở trường mà là việc tạo lập nên một đoàn thể những nhà giáo dục được đào tạo chu đáo. Chính nỗ lực này đặt nền tảng bảo đảm cho sự thành công trong việc giáo dục.
Không phải khuynh hướng tự nhiên được đưa Ngài tới việc thực hiện công trình này. Thật vậy, hoàn cảnh gia đình với sự đào luyện từ thuở nhỏ khó có thể coi được là một chuẩn bị cho Ngài làm giáo dục. Sinh tại Reims ngày 30 tháng 4 năm 1651, Gioan Baotixita, là con trưởng trong một gia đình quý phái và được thừa hưởng địa vị lẫn gia tài của cha mẹ để lại. Những thứ này là vực ngăn cách Ngài với đám đông dân chúng nghèo khổ.
Vào tuổi 16, khi đang theo học ở Học viện dành cho trẻ em ưu tú (College des Bons enfants), thánh nhân được đặt làm kinh sĩ ở Reims. Sau đó Ngài tiếp tục theo học tại chủng viện Xuân Bích và đại học Sorbonne để làm linh mục. Ngài thụ phong linh mục năm 27 tuổi.
Cho đến lúc này, chưa có một yếu tố nào cho thấy rõ sứ mệnh tương lai của Ngài. Nhưng ít lâu sau, Ngài được chỉ định giúp vào việc lập trường ngay tại quê hương xứ sở mình. Việc này đặt Ngài và trách nhiệm săn sóc các giáo viên, dẫn Ngài tới chỗ đưa họ về nhà mình và đào luyện họ. Dần dần, Ngài hiểu rằng: Chúa quan phòng định cho Ngài làm dụng cụ kiến tạo một hệ thống giáo dục dành cho dân nghèo, lớp dân bị xỉ nhục trong "thế kỷ huy hoàng" vì sự hư dốn và ngu dốt của họ.
Chọn thánh ý Thiên Chúa làm nguyên tắc hứơng dẫn đời sống, Ngài quyết định hiến mình trọn vẹn cho công tác này. Ngài từ chức kinh sĩ, phân phát gia tài để mang lấy cũng một địa vị như các giáo viên Ngài chung sống. Làm như vậy Ngài làm cho những người đồng hương nặng đầu óc giai cấp tức giận. Nhưng điều ấy không thay đổi được quyết định của Ngài.
Năm 1684, Ngài biến đổi nhóm giáo viên của mình để thành một cộng đoàn an sĩ với danh hiệu Sư huynh. Các trường công giáo. Đây là nguồn gốc của hội dòng ngày nay, phổ biến rộng rãi khắp thế giới. Để giới hạn hội dòng riêng cho nỗ lực giáo dục, Ngài nhận định rằng: sư huynh nào làm linh mục, cũng như không nhận một linh mục nào vào dòng. Luật này ngày nay vẫn còn được áp dụng.
Những năm đầu, hội dòng rất nghèo khổ và cực nhọc. Tuy nhiên thánh nhân vẫn kiên quyết chịu đựng và vững tin ở Chúa quan phòng. Người nói với những người lo âu : - Tại sao mà không tin tưởng ? Chúa thà làm phép lạ còn hơn để cho chúng ta phải thiếu thốn.
Mối quan tâm chính của Ngài là đào luyện đạo đức và nghiệp vụ cho anh em. Nhưng, thấy không thể thỏa mãn được mọi đòi hỏi của giáo viên nếu không huấn luyện giáo viên, năm 1678 Ngài lập ở Reims một học viện cho khoảng 40 trẻ. Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục có một cơ sở giáo dục như vậy.
Sau khi lập trường ở những thành phố lân cận, năm 1683, Ngài coi sóc một trường ở xứ Thánh Xuân Bích (Sulpice), là nơi Ngài đặt bản doanh của mình. Tại thủ đô công trình lan rộng mau lẹ. Ngài lập thêm một trường đào tạo nữa với một trường miễn phí cho các bạn trẻ đã đi làm việc. Khi vua Giacôbê III trao phó cho Ngài săn sóc các thiếu niên Ái Nhĩ Lan, Ngài đã dành cho họ các giảng khoá đặc biệt theo nhu cầu của họ.
Mục đích tốt đẹp của Ngài bị chống đối bởi những giáo viên trường nhỏ, vì mất học sinh và học phí. Họ kiện cáo Ngài. Trường của Ngài bị cướp phá. Ngài bị kết án và bị cấm không được mở trường đào luyện miễn phí ở phạm vi Paris. Dĩ nhiên Ngài cũng bị trục xuất khỏi thủ đô một thời. Nhưng công trình của Ngài đã lan rộng sang nhiều nơi khác và những cấm đoán kia không thể phá hủy nổi.
Ở Rouen, Ngài đã lập hai cơ sở quan trọng: một trường nội trú phải trả học phí, cho học sinh miền quê muốn hiến thân, và một trường phục hồi cho những trẻ em bụi đời. Cả hai đều rất thành công. Cha Gioan Baotixita trải qua những năm cuối đời ở Rouen để kiện toàn thành tổ chức, viết luật dòng chờ các sư huynh và hai tác phẩm Meditations (nguyện ngắm), Methode de la prière mentale (Phương pháp thực hành tâm nguyện)
Ngài từ trần ngày thứ sáu tuần thánh 09 tháng 04 năm 1719.



Thánh Phêrô NGUYỄN VĂN LỰU, Linh mục (1812-1861)
Ngày 07 tháng 04
Hy sinh vì sứ vụ
Đọc lại toàn bộ lịch sử thời tử đạo Việt Nam, hầu như trong bất cứ cuộc tử đạo nào cũng thấy bóng dáng một linh mục bản quốc. Dầu hoàn cảnh khó khăn hiểm nguy, các vị đã can đảm hiện diện, hoặc hóa trang vào thăm giáo hữu ở trong tù, ban bí tích hòa giải và trao Mình Thánh Chúa; hoặc ít ra kín đáo đón các tín hữu bị đưa ra pháp trường và bí mật giải tội cho họ. Linh mục Phêrô Nguyễn văn Lựu là trường hợp tiêu biểu cho sự kiện này. Cha bị bắt khi đang lén vào làm việc mục vụ trong ngục.
Mục tử săn sóc đàn chiên
Phêrô Nguyễn văn Lựu sinh năm 1812 tại Gò vấp, Gia Định (Sài Gòn). Lớn lên cậu dâng mình cho Chúa, vào chủng viện và được gởi đi học ở Pénang, rồi được thụ phong linh mục. Cha được bổ nhiệm phụ trách nhiều giáo xứ như Mặc Bắc, Sa Đéc, Mỹ Tho. Cha thực thi nhiệm vụ một cách rất chu đáo, Cha chú tâm nhiều đến việc giảng dạy giáo lý, quan tâm đến từng gia đình trong sứ đạo, thường xuyên thăm viếng khuyên bảo họ. Các giáo hữu quý mến và sẵn sàng nghe theo lời của cha, ngay cả khi bị cha khiển trách lỗi lầm của họ. Cha Lựu chỉ mắc một tật nhỏ nhưng đã bỏ được. Vì gặp gỡ với dân đồng bằng Cửu Long, cha thường uống rượu với họ. Một hôm đang đi trên thuyền, cha mời linh mục Thuyết ở thuyền khác qua làm vài "xị", nhưng vị này nhất mực từ chối: "Tôi không uống vì nhiều lý do, uống rượu vừa tốn kém, vừa mất tỉnh táo, lại chẳng phải là gương tốt cho tín hữu". Ngay lúc đó cha Lựu đã ném ngay chai rượu xuống sông và nói: "Từ hôm nay tôi không uống rượu nữa". Và cha đã trung thành giữ lời hứa đó.
Đầu năm 1853, cha Lựu thoát chết một cách may mắn. Khi đó, cha đang là cha sở họ Mặc Bắc và vừa được bổ nhiệm đến nơi khác thì quan trấn phủ Vĩnh Long, theo mật báo, đến vay bắt cha. Cha Philipphê Phan văn Minh và ông trùm Giuse Lựu bị bắt thế mạng.
Năm 1860, cha Phêrô Lựu đang phụ trách xứ Ba Giồng thì có lệnh quan trấn bắt tất cả các tín hữu có tên tuổi ở Xoài Mút và Ba Giồng (gần Mỹ Tho) đưa về giam tập trung ở tỉnh. Vì thương anh em bổn đạo cha thường cải trang vào thăm viếng, ủy lạo.
Các tín hữu coi cha như thiên thần Chúa gởi đến đem cho họ lương thực Thánh thể, ân sủng và bình an. Để thực hiện điều này, có lúc cha phải bỏ tiền mua chuộc lính canh và thận trọng lời nói với cấp trên của họ.
Gương sáng trong ngục tối
Tháng 12.1860, một hôm trong lúc đang gặp các tín hữu trong tù, vô tình cha để một lá thư chìa ra miệng túi áo. Viên quan thanh tra trại giam đi qua trông thấy liền ra lệnh bắt giam. Biết không thể giấu được nữa, cha liền nhận mình là linh mục. Thế là cha được chia sẽ đòn đánh, tra khảo, dọa nạt chung với các tín hữu của mình. Từ nay cha không chỉ an ủi, động viên anh em bằng lời nói suông nữa, mà bằng chính mẫu gương cuộc đời của mình: Bất chấp mọi đau đớn sỉ nhục, nhất quyết giữ vững niềm tin, chứ không bỏ đạo. Các quan bắt cha xuất giáo, cha trả lời: "Đạo đã thấm nhập vào trong xương tủy, tôi làm sao bỏ được. Vả lại một người giáo hữu thường, một thày giảng còn không có quyền bỏ đạo, huống nữa tôi đây là đạo trưởng".
Nhận thấy mọi hình khổ đều vô ích, quan tỉnh Mỹ Tho liền lên án trảm quyết cha. Ngày 07.04.1861, quân lính dẫn vị chứng nhân đức tin ra khỏi cửa thành độ một cây số, rồi chém cha ngay bên vệ đường. Viên đao phủ vì mê tín, sợ người đã chết nhập vào mình, nên vừa chém xong liền quăng dao chạy trốn.
Thi hài vị tử đạo được các tín hữu thu lại đem về an táng chung với gông cùm và một chiếc bình đất vấy máu ngài. Về sau hài cốt của cha được dời đến đặt tại bàn thờ chính thánh đường Mỹ Tho. Năm 1960, hài cốt ngài lại được cải táng về nhà thờ chính tòa Sài gòn .
Ngày 02.05.1909, Đức Thánh Cha Piô X đã suy tôn cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
Lm. Đào Trung Hiệu, OP

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Ngày 10/2: Thánh Scolastica, Trinh nữ

 
Thánh Scolastica là em gái thánh Bênêđictô, tổ phụ của những đời sống khổ tu bên Tây phương. Ngài còn được nối kết với thánh nhân như người em sinh đôi, nhưng không chắc chắn lắm. Chúng ta biết được chút ít về đời sống của thánh nữ là do cuốn Dialogue, tập hai, của thánh Grêgôriô cả, cuốn sách ghi lại đời sống thánh Bênêdictô và các phép lạ của Ngài.
Như anh của Ngài, thánh nữ Scolastica đã sinh ra tại quận Sabina miền Nursia và cha mẹ Ngài được giả thuyết cho là những người dòng dõi quí phái tại miền quê.
Vào một lúc nào đó, có lẽ khi còn rất trẻ, Scolastica đã tu kín và trong những năm cuối cùng đời Ngài, chúng ta thấy Ngài sống gần Montê Cassinô, để có thể gặp được anh mình mỗi năm một lần.
Khi thánh Bênêđictô thiết lập tu viện tại Montê Cassinô, Scolastica cùng với các trinh nữ quây quần bên Ngài đã đến ở bên núi, lập thành tu viện Palumbariola, Ngài đặt mình dưới sự hướng dẫn của anh, vì Ngài biết rằng: không ai có thể hướng dẫn các linh hồn về trời cách chắc chắn hơn. Nhưng Ngài không muốn quấy rầy anh mình nhiều và chỉ gặp anh mỗi năm một lần vào trước mùa Chay, trong một trang trại của tu viện ở miền núi. Một nguyện đường đã được dựng lên tại đây để ghi nhớ những giây phút khôn tả mà thánh Bênêdictô thông cho em mình ánh sáng thần linh. Ngài thụ lãnh được và dạy dỗ em mình đường trọn lành của tu sĩ trong thống hối và yêu thương.
Nhưng lần ấy họ đã trải qua một ngày để khen ngợi Chúa và cầu xin hạnh phúc trên trời, bên ngoài khí trời tươi mát vì đã vào xuân, bầu trời trong sáng lạ thường, thánh Scolastica say sưa cảm nếm hương vị của câu chuyện đàm thoại trong khi màn đêm buông xuống dần... lúc đó thánh Scolastica nói với thánh Bênêđictô:
- Anh ơi trời khuya rồi, làm sao anh về được. Thôi mình tiếp tục nói chuyện tới sáng về niềm vui cuộc sống trên trời đi. Thánh Bênêđictô trả lời:
- Em nói gì vậy, anh không thể nhận lời em được. Anh không thể ở qua đêm ngoài nhà dòng được đâu.
Thánh Scolastica dấu mặt vào lòng bàn tay và khóc nức nở. Ngài nói với Chúa ước muốn êm ái của lòng mình. Và Thiên Chúa là đấng đã chúc phúc cho cả một cuộc sống hiến dâng, lại sắp gọi thánh nữ về với mình, nên như người cha chiều con, Chúa đã muốn ban cho thánh nữ niềm an ủi dịu dàng cuối cùng. Một trận cuồng phong nổi lên. Mưa đổ xuống như thác lũ với sấm sét dữ dằn. Chẳng ai còn có thể nghĩ tới việc ra đi nữa. Thánh Bênêđictô bối rối, Ngài nói:
- Này em, em làm gì vậy ?
Thánh Scolastica êm ái trả lời:
- Em đã xin anh, nhưng anh chẳng muốn nghe em. Em đã cầu xin Chúa và Ngài đã nhận lời. Bây giờ nếu có thể được, anh hãy về nhà dòng đi.
Lúc ấy thánh Bênêđictô cảm tạ lòng thương xót Chúa, Ngài tiếp tục nói chuyện về hạnh phúc đang chờ đón những người Chúa chọn. Lời Ngài dâng cao như những chùm ánh sáng.
Đến sáng cơn giông ngừng. Anh em mỗi người một ngả và không còn gặp nhau trên trần gian này lần nào nữa.
Ba ngày sau, khi thánh Bênêđictô đang đứng bên cửa sổ đã thấy linh hồn em mình bay lên như cánh chim câu, phủ đầy ánh sáng thiên đàng. Say mê với thị kiến này, Ngài cất cao giọng hát bài thánh ca. Đó chính là lúc thánh Scolastica êm ái tắt hơi trong tu viện mình. Thánh Bênêđictô sai các tu sĩ đi tìm xác em để chôn trong ngôi mộ dọn sẵn cho mình.
Một tháng sau nhà ẩn tu vĩ đại cũng từ giã cõi thế để hợp với thánh Scolastica trong hạnh phúc của các thánh nhân mà họ đã tha thiết khơi dậy.
Mừng lễ thánh Scolastica, xin Chúa cho chúng con theo gương thánh nữ để lại, biết hết lòng yêu mến phụng thờ Chúa và cảm nghiệm tình thương của Ngài.
 
 

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Chân phước Micae Pro, linh mục tử đạo (lễ nhớ ngày 23 – 11)



Nguồn: http://dongten.net/noidung/17268
Đối với chân phước Micae Pro (Miguel Agustín Pro), mọi sự trên đời này đều có thể là chuyện đùa được. Một lần bị công an rượt bắt, đến chỗ quẹo, ngài bá vai một cô gái và nói nhỏ: “Cha bị công an rượt.” Khi thấy vậy, họ tưởng là một cặp tình nhân, nên chẳng thèm để ý gì, chỉ cố đuổi bắt cho được ông linh mục! Dầu vậy, ngài không cho phép ai coi việc gì liên hệ đến Chúa là chuyện đùa. Chính vì thế, ngài bị chính quyền Mêhicô thời đó kết án.
Chân phước Micae Pro sinh năm 1891 tại thị trấn Zacatecas, miền trung nước Mêhicô, trong một gia đình khá giả và đạo đức. Lúc nhỏ, ngài là một chú bé hiếu động và tinh nghịch. Năm 20 tuổi, ngài được nhận vào Dòng Tên tại tập viện El Llano. Sau 4 năm sống yên lành, ngài cùng với cả cộng đoàn phải chạy trốn sáng Hoa Kỳ, ở nhà tập Los Gatos ở bang California, để tránh đoàn quân hung hãn của chính quyền Carranza thù ghét Hội Thánh. Năm 25 tuổi, ngài được gửi đi học triết lý tại Granada nước Nicaragua. Năm 31 tuổi, ngài được gửi học thần học tại Barcelona ở Tây Ban Nha, rồi tại Enghien ở Bỉ. Tại đây ngài thụ phong linh mục lúc 34 tuổi. Năm sau ngài được gọi về Mêhicô để hoạt động tông đồ.
Ngài chỉ hoạt động tông đồ được hơn một năm, tất cả tập trung tại Mêhicô. Thời đó, chính quyền Mêhicô đề ra những biện pháp gay gắt đối với tôn giáo: luật năm 1926 giải tán tất cả các dòng tu, đóng cửa các trường học công giáo, mỗi tín hữu có thể đến cầu nguyện riêng ở nhà thờ, nhưng không được đọc kinh chung hay dâng lễ, dù là ở tư gia. Không thể đùa với những việc thiêng liêng như vậy được: 90% dân Mêhicô là người công giáo. Một mặt cha Pro tham gia Hội Liên Hiệp Bảo Vệ Tự Do Tín Ngưỡng để đòi chính quyền tôn trọng tự do sinh hoạt tôn giáo của nhân dân. Mặt khác, ngài thay hình đổi dạng để có thể đi đây đi đó để giải tội, dâng lễ, hướng dẫn tĩnh tâm. Ngài đặc biệt giúp các gia đình nghi thức tôn vương: nhận Chúa Ki-tô là vua để yêu mến, tôn kính và tuân phục. Có lần ngài đang chuẩn bị dâng lễ tại một tư gia thì công an đến. Họ hỏi: “Ở đây sắp có lễ, phải không? Ngài trả lời thật bình tĩnh: “Nếu ở đâu có lễ, xin cho tôi biết với. Tôi là người công giáo, rất mong được dự lễ.” Nhiều lần ngài thoát tay công an trong đường tơ kẽ tóc như vậy.
Một hôm có người trong hàng lãnh đạo chính quyền Mêhicô bị ám sát. Công an bắt ngài cùng với mấy thành viên khác của Hội Liên Hiệp Bảo Vệ Tự Do Tín Ngưỡng. Không hề bị xét xử, họ đem ngài và các bạn ra xử bắn ngày 23 tháng 11 năm 1927 tại thủ đô Mêhicô. Trước khi thụ hình, ngài xin quỳ gối cầu nguyện ít phút, rồi đứng lên dang tay theo hình thánh giá và hô lớn: “Vạn tuế Chúa Ki-tô vua.” Mọi người quen biết đều nhìn nhận ngài là một tu sĩ đạo đức và là một linh mục nhiệt thành, đồng thời kể không biết bao nhiêu chuyện đùa dai của ngài. Mặc dù kết cuộc đời ngài có vẻ bi đát, nhưng nhất định ngài không phải là một vị thánh buồn. Ngài được Đức Thánh Cha Phaolô II tuyên chân phước năm 1988.

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

4/10 : Lễ Thánh Phanxicô Assisi

Nguồn: http://www.cuocdoidanghien.com/index.php?option=com_content&view=article&id=900

Ngày 4 Tháng 10
Lễ Thánh Phanxicô Assisi
Lễ Nhớ
Bài Ðọc I:                                                                                 Gl 6, 14-18
"Nhờ cây Thập giá mà thế gian đã chịu đóng đinh cho tôi, và tôi cho thế gian".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Galata.
  Anh em thân mến, phần tôi, ước gì tôi đừng khoe mình về một điều gì khác, ngoại trừ về thập giá Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nhờ cây thập giá mà thế gian đã chịu đóng đinh cho tôi, và tôi cho thế gian. Vì chưng trong Ðức Kitô có cắt bì hay không cũng chẳng có giá trị gì, điều quan trọng là trở nên một tạo vật mới. Nguyện chúc bình an và lòng thương xót đối với những ai rập theo quy tắc đó, và cho cả Israel của Thiên Chúa nữa. Từ nay trở đi, ước gì không ai làm phiền tôi nữa, vì tôi mang trong mình tôi dấu thánh của Chúa Giêsu. Anh em thân mến, nguyện ân sủng của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ở cùng anh em. Amen.
  Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca:                                                            Tv 15, 1-2a và 5. 7-8. 9-10. 11
Ðáp: Lạy Chúa, Chúa là phần gia nghiệp của con                             (c. 5a).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng:
1) Xin bảo toàn con, lạy Chúa,
vì con tìm nương tựa Chúa,
con thưa cùng Chúa:
"Ngài là chúa tể con,
Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con,
chính Ngài nắm giữ vận mạng của con".                               
Ðáp.

2) Con chúc tụng Chúa
vì đã ban cho con lời khuyên bảo,
đó là điều lòng con tự nhủ,
cả những lúc đêm khuya.
Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con,
vì Chúa ngự bên hữu con,
con sẽ không nao núng.                                                      
Ðáp.

3) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh,
sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan,
sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời!                
Ðáp.


Alleluia:                                                                                   x. Mt 11, 25
     Alleluia, alleluia! - Lạy Cha là Chúa trời đất, chúc tụng Cha, vì Cha đã mạc khải các mầu nhiệm nước trời cho những kẻ bé mọn. - Alleluia.


Phúc Âm:                                                                              Mt 11, 25-30
"Chúa đã giấu các điều ấy cùng kẻ khôn ngoan thông thái, và đã tỏ bày ra cho những kẻ bé mọn".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
  Khi ấy, Chúa Giêsu lên tiếng nói rằng: "Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy.
  "Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con, trừ ra Cha. Và cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho.
  "Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng".
 Ðó là lời Chúa.
Thánh Phanxicô Assisi
     Thánh Phanxicô sinh khoảng năm 1181, tại thành phố Assisi nước Ý. Là con trai của một thương gia buôn vải giàu có, Phanxicô luôn vận những bộ áo sang trọng nhất và tiêu tiền cách tự do. Phanxicô rất được bạn bè quý chuộng vì ngài năng dành nhiều thời gian và tiền bạc để mở tiệc thết đãi các bạn. Với tâm thức thích mạo hiểm và tìm kiếm danh vọng, Phanxicô Assisi đã xông pha chiến trận khi tuổi đời vừa tròn 20. Rồi Phanxicô bị bắt làm tù binh và bị bệnh rất nặng. Sau một năm, ngài được trả tự do và trở về nhà. Khi sức khỏe bình phục, Phanxicô lại cố gắng tham gia chiến trận với hy vọng sẽ trở thành hiệp sĩ. Nhưng trên đường tới chiến trường, Phanxicô nghe tiếng Chúa nói hãy trở về quê nhà ở Assisi, nơi đây Phanxicô sẽ được cho biết phải làm gì với cuộc sống của mình.
     Về lại quê hương, Phanxicô Assisi mới nhận ra mình đã phung phí quãng thời giờ quý giá. Ngài ý thức được rằng mình phải phục vụ Giêsu. Phanxicô bắt đầu gia tăng cầu nguyện và làm nhiều việc hy sinh để trưởng thành trong đời sống tâm linh. Thánh nhân thường bố thí tiền bạc cho những người nghèo khổ. Có lần Phanxicô đã đổi bộ áo của mình để lấy bộ áo tơi tả của một người nghèo khó, Phanxicô Assisi muốn thực sự cảm nghiệm cái nghèo cùng cực của người ấy. Phanxicô cũng chăm sóc những người bệnh hủi trong một bệnh viện gần đó. Dẫu vậy, thánh nhân vẫn cảm thấy cần phải làm nhiều việc hơn nữa.
     Thật dễ dàng hình dung được các người bạn quý phái cũ của Phanxicô giờ đây nhìn ngài với cặp mắt thế nào! Cả thân phụ của Phanxicô cũng phải xấu hổ vì đường lối mới lạ của con trai mình, và ông đã đem Phanxicô tới cho đức giám mục giáo phận Assisi, hy vọng đức giám mục sẽ khuyên dụ được chàng thanh niên theo ý muốn của ông. Ai ngờ, Phanxicô lại gởi trả cho thân phụ hết mọi thứ ông đã cho mình và tuyên bố rằng mình không thuộc về ông nữa. Và từ giờ phút đó, Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời, chính là người cha của Phanxicô; thánh nhân đặt mình dưới sự bảo trợ của đức giám mục giáo phận thành Assisi.
     Thánh Phanxicô Assisi là “hiệp sĩ” của “Đức Mẹ Người Nghèo,” và thánh nhân bắt đầu sống như một người hành khất. Lương thực mà Phanxicô dùng hằng ngày là những thứ người ta bố thí cho ngài. Nơi nào đi qua, thánh Phanxicô Assisi cũng đều van xin người ta đừng phạm tội và hãy sám hối trở về với Thiên Chúa. Chẳng bao lâu, nhiều người bắt đầu nhận thấy người đàn ông nghèo khổ này sống thật tha thiết với Thiên Chúa, và họ đã xin được làm môn đệ của ngài. Đây là lý do mà đại gia đình dòng Phanxicô gồm các anh em linh mục, tu sĩ, nữ tu và dòng Ba hình thành. Họ giúp đỡ những người nghèo khổ và rao giảng khắp nơi. Ngay cả sau khi hội dòng đã lan rộng ra khắp nước Ý, thánh Phanxicô Assisi cũng luôn khuyên dụ con cái mình hãy cố gắng đừng sở hữu bất cứ của gì. Thánh nhân mong muốn các tu sĩ và linh mục dòng ngài hãy thực sự yêu mến đức khó nghèo như ngài.
     Thánh Phanxicô Assisi đã sống Tin mừng cách hoàn hảo và rất vui sướng. Thánh nhân cố gắng biến đời sống mình thành bản sao sống động giống Đức Giêsu. Như một phần thưởng dành cho tình yêu lớn lao của thánh Phanxicô, Chúa Giêsu đã ban cho thánh nhân được mang năm Dấu Thánh của Chúa trên tay, chân và cạnh sườn ngài. Sự kiện này xảy ra hồi năm 1224, hai năm trước lúc thánh Phanxicô về trời.
     Về cuối đời, thánh Phanxicô Assisi phải đau nặng. Nhưng với tinh thần vui tươi, Phanxicô Assisi đã chào đón cái chết như một người chị. Thánh nhân đã xin anh em đặt mình trên nền đất và chỉ phủ một tấm áo dòng cũ. Sau đó, thánh nhân nài xin anh em hãy yêu mến Thiên Chúa, yêu mến đời sống khó nghèo và hãy sống theo tinh thần Tin mừng. “Cha đã chu toàn phần việc của cha!” thánh Phanxicô Assisi nói, “xin Chúa Giêsu giúp các con hoàn tất phần của các con!” Thánh Phanxicô Assisi về trời ngày mùng 3 tháng Mười năm 1226. Chỉ một thời gian ngắn sau khi qua đời, Phanxicô Assisi được đức thánh cha Hônôriô III tôn phong lên bậc hiển thánh.
     Cuộc sống nghèo khó của thánh Phanxicô Assisi là một dấu chỉ cho thấy những của cải vật chất đời này không làm cho chúng ta thỏa mãn và hạnh phúc. Còn niềm vui đích thực thì xuất phát từ lòng yêu mến Thiên Chúa và mô phỏng đời sống mình theo gương Đức Chúa Giêsu. Chúng ta hãy nài xin thánh Phanxicô Assisi chỉ cho chúng ta cách sống Tin mừng vui tươi và giản dị.