CHÂN THIỆN MỸ MẾN CHÀO CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời Chủ Chăn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời Chủ Chăn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

Mười điểm “rút ra” từ Laudato Si’


CN, 21/06/2015 - 06:57

http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20150621/31045

WHĐ (21.06.2015) – Thông điệp mới mang tính cách mạng của Đức giáo hoàng Phanxicô kêu gọi một “cuộc cách mạng văn hóa rộng rãi” để đương đầu với cuộc khủng hoảng môi trường. Laudato Si’ khá dài. Có thể tóm tắt được không? Nói cách khác, đâu là những sứ điệp chính, hoặc “những điểm rút ra” từ Laudato Si’ ?
Linh mục James Martin, S.J., biên tập viên tự do của tạp chí America đã tóm tắt Thông điệp mới của Đức giáo hoàng Phanxicô trong bài viết Mười điểm “rút ra” từ Laudato Si’.
Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài viết này.

1) Viễn tượng tâm linh hiện là một phần của các cuộc thảo luận về môi trường
Theo tôi, đóng góp lớn nhất của Laudato Si’  cho cuộc đối thoại về môi trường là đã tóm lược có hệ thống về cuộc khủng hoảng theo quan điểm tôn giáo. Cho đến nay, cuộc đối thoại về môi trường chủ yếu đóng khung trong ngôn ngữ chính trị, khoa học và kinh tế. Với Thông điệp mới này, ngôn ngữ của đức tin đã bước vào cuộc thảo luận, rõ ràng, dứt khoát và có hệ thống. Điều này không có nghĩa là Đức giáo hoàng Phanxicô áp đặt niềm tin của mình vào những mối quan tâm ấy về môi trường. Ngài nói, “tôi biết rõ rằng không phải mọi người đều là tín hữu” (số 62). Tuy nhiên, Thông điệp đặt cuộc thảo luận cách chắc chắn vào một viễn tượng tâm linh và mời gọi mọi người khác lắng nghe quan điểm tôn giáo, đặc biệt là quan niệm về sáng tạo như một món quà thánh thiêng và quý giá của Thiên Chúa, được mọi người nam nữ quý trọng. Nhưng Đức giáo hoàng cũng hy vọng sẽ tiếp thêm “động lực dồi dào” cho các Kitô hữu và tín hữu khác trong việc “chăm sóc thiên nhiên” (số 64). Điều này cũng không có nghĩa là các vị giáo hoàng khác (và các cơ quan khác của Giáo hội) đã không nói về cuộc khủng hoảng – Đức giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh đến giáo huấn của các vị tiền nhiệm của ngài, đặc biệt là Thánh Gioan Phaolô II và Đức nguyên giáo hoàng Bênêđictô. Nhưng với cách tiếp cận có hệ thống về phương diện tâm linh, đây là một văn kiện mang tính đột phá nhằm mở rộng cuộc bàn luận bằng cách mời các tín hữu tham gia đối thoại và cung cấp những hiểu biết mới mẻ cho những người đã tham gia.
2) Người nghèo bị ảnh hưởng nặng nề vì biến đổi khí hậu
Hậu quả không cân xứng của sự thay đổi môi trường đối với người nghèo và các nước đang phát triển được nhấn mạnh trong hầu hết các phần của Thông điệp. Thật vậy, ở gần phần mở đầu của Laudato Si’, Đức giáo hoàng xác định rằng một trong các chủ đề trung tâm của Thông điệp là tập trung vào người nghèo, và ngài đưa ra nhiều ví dụ về các hậu quả tai hại của biến đổi khí hậu, gây ra “tác động xấu” cho những những người sống tại các nước đang phát triển. Đây không chỉ đơn giản là kết quả của việc những người giàu có quyền lực đã đưa ra những quyết định không quan tâm đến người nghèo, mà còn vì bản thân người nghèo có ít nguồn lực tài chính giúp họ thích ứng với việc biến đổi khí hậu. Ngoài ra, các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các nước nghèo lại làm giàu thêm sự phát triển của các nước giàu và “phải trả giá bằng chính hiện tại và tương lai của chính mình” (số 52). Trong suốt Thông điệp, Đức giáo hoàng đã dùng Phúc Âm, giáo huấn xã hội Công giáo và các phát biểu của các vị giáo hoàng gần đây để phê phán việc loại trừ bất cứ ai khỏi phúc lợi của thiên nhiên. Nói chung, trong các quyết định liên quan đến môi trường và việc sử dụng các nguồn tài nguyên chung của trái đất, ngài lặp đi lặp lại lời kêu gọi phải quý trọng “phẩm giá lớn lao của người nghèo” (số 158).
3) Ít đi tức là nhiều hơn
Đức giáo hoàng Phanxicô nhắm vào điều mà ngài gọi là tư duy “kỹ trị”, trong đó công nghệ được coi là “chiếc chìa khóa chính” cho đời sống con người (số 110). Ngài phê phán sự lệ thuộc thiếu suy xét vào sức mạnh thị trường, trong đó người ta chấp nhận mọi tiến bộ công nghệ, khoa học, công nghiệp mà không xét xem nó có ảnh hưởng đến môi trường như thế nào và “không quan tâm đến việc nó có thể gây ra tác động tiêu cực cho con người” (số 109). Đây không phải là quan điểm của một người thủ cựu –thật vậy, Đức Phanxicô đã không theo lối mòn chỉ biết ca ngợi các tiến bộ công nghệ– nhưng là quan điểm của một tín hữu phản đối ý tưởng cho rằng mọi tiến bộ về công nghệ đều tốt đẹp cho trái đất và cho nhân loại. Laudato Si’ cũng chẩn đoán một xã hội của “chủ nghĩa tiêu thụ cực đoan”, trong đó người ta không thể chống lại những gì thị trường bày ra cho họ, trái đất bị bóc lột và hàng tỷ người bị bần cùng hóa (số 203). Ngài nói, đó là lý do tại sao bây giờ là lúc phải chấp nhận “giảm phát triển ở một số nơi trên thế giới, để những nơi khác được phát triển lành mạnh” (số 193). Ngược với não trạng tiêu thụ, linh đạo Kitô giáo đề nghị một sự tăng trưởng mang tính “điều độ và có khả năng sống hạnh phúc với điều ít ỏi” (số 222). Đây hoàn toàn là vấn đề định nghĩa lại khái niệm của chúng ta về sự tiến bộ.
4) Ngày nay giáo huấn xã hội Công giáo gồm cả giáo huấn về môi trường
Phản bác những ai cho rằng một Thông điệp của giáo hoàng về môi trường là không có thẩm quyền thực sự, Đức giáo hoàng Phanxicô tuyên bố rõ ràng rằng Laudato Si’ nay sẽ được đưa vào nội dung giáo huấn xã hội của Giáo hội” (số 15). Theo đó, Thông điệp là hình thức giáo huấn ở mức cao nhất của thẩm quyền Giáo hội, chỉ sau Phúc Âm và các Công đồng như Công đồng Vatican II. Như vậy, Thông điệp này tiếp nối suy tư về các vấn đề hiện đại đã bắt đầu với Rerum Novarum (Tân sự) của Đức giáo hoàng Leo XIII ban hành năm 1891 về tư bản và lao động. Đức giáo hoàng Phanxicô sử dụng một số nền tảng truyền thống của giáo huấn Công giáo về xã hội, đặc biệt là khái niệm “công ích”, để trình bày tư tưởng của ngài. Phù hợp với các thực hành của giáo huấn xã hội Công giáo, Đức giáo hoàng kết hợp tính phong phú của nền thần học của Giáo hội với những kết luận của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực, để suy tư về các vấn đề hiện nay. Để đạt được điều này, ngài nối kết một cách rõ ràng Thông điệp Pacem in Terris của Thánh Gioan XXIII – nói về cuộc khủng hoảng chiến tranh hạt nhân, với Laudato Si’ – nói về cuộc khủng hoảng mới hơn này.
5) Thảo luận về sinh thái học có nền tảng trong Kinh Thánh và truyền thống Giáo Hội
Một cách khôn ngoan, Đức giáo hoàng Phanxicô không mở đầu Thông điệp với một tư tưởng Kinh Thánh và truyền thống (hai cột trụ của giáo huấn Công giáo), khiến cho những người không tin có thể gạt Thông điệp sang một bên, nhưng với một cái nhìn tổng quan về cuộc khủng hoảng, gồm cả vấn đề nước, đa dạng sinh học v.v… Chỉ đến Chương Hai ngài mới trở về với “Phúc Âm của Sáng tạo”, trong đó ngài dẫn dắt độc giả, từng bước, qua lời kêu gọi chăm sóc thiên nhiên đã được nói đến trong sách Sáng Thế, khi con người được kêu gọi “trồng trọt và gìn giữ” trái đất. Nhưng có thể nói chúng ta đã cày bừa quá nhiều và không gìn giữ đủ. Trong một cái nhìn rất tổng quát, Đức giáo hoàng Phanxicô đã vạch ra chủ đề yêu mến các thụ tạo bằng cả Cựu Ước và Tân Ước. Chẳng hạn, ngài nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, không chỉ trở nên con người, mà còn là một phần của thế giới tự nhiên. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu cũng đề cao thế giới tự nhiên, như trong các đoạn Tin Mừng mà Người ca ngợi thụ tạo. Những hiểu biết của các thánh cũng được Đức giáo hoàng Phanxicô nhắc lại, đặc biệt nhất là Thánh Phanxicô Assisi, là kim chỉ nam tinh thần của Thông điệp này. Ngoài ra, để giúp những người không tin hiểu được Kinh Thánh và truyền thống của Giáo hội, Đức giáo hoàng rõ ràng cố gắng truyền cảm hứng cho các tín hữu chăm sóc thiên nhiên và môi trường.
6) Mọi sự đều liên kết với nhau, kể cả kinh tế
Một trong những đóng góp lớn nhất của Laudato Si’ là đưa ra điều mà các nhà thần học gọi là tiếp cận “có hệ thống” một vấn đề. Trước hết, Đức giáo hoàng nối kết tất cả chúng ta với thiên nhiên: “Chúng ta là một phần của thiên nhiên, ở trong thiên nhiên, và vì thế thường xuyên tương tác với thiên nhiên” (số 139). Nhưng quyết định của chúng ta, đặc biệt là về sản xuất và tiêu thụ, có tác động không thể tránh khỏi đối với môi trường. Đức Phanxicô liên kết một “quan niệm ma thuật của thị trường” –vốn ưu tiên cho lợi nhuận hơn là tác động đến người nghèo–, với việc lạm dụng môi trường (số 190). Khỏi phải nói, việc chạy theo tiền bạc và gạt sang một bên lợi ích của những người sống bên lề xã hội sẽ dẫn đến sự huỷ hoại hành tinh này. Ngay từ đầu, Đức giáo hoàng đã nói đến Thánh Phanxicô Assisi, là người khẳng định “mối liên kết không thể tách rời của việc quan tâm đến thiên nhiên, công lý cho người nghèo, dấn thân cho xã hội với sự bình an nội tâm” (số 10). Không hề lên án chủ nghĩa tư bản một cách ngây thơ, Đức giáo hoàng Phanxicô đưa ra lời phê bình thông minh về các giới hạn của thị trường, đặc biệt là khi nó không chu cấp cho người nghèo. Đức giáo hoàng nói, “Lợi nhuận không thể là tiêu chuẩn duy nhất của các quyết định của chúng ta” (số 187).
7) Nghiên cứu khoa học về môi trường phải được đề cao và áp dụng
Trong Thông điệp này Đức giáo hoàng Phanxicô không cố gắng “chứng minh” điều gì về thay đổi khí hậu. Ngài thẳng thắn thừa nhận rằng Giáo hội không “định giải quyết các vấn đề khoa học” (số 188). Và đang khi nêu rõ rằng có những tranh luận về khoa học hiện nay, Thông điệp của ngài chấp nhận “nghiên cứu khoa học tốt nhất hiện nay” và dựa trên cơ sở đó, chứ không đi vào cuộc tranh luận của các chuyên gia (số 15). Chẳng hạn, khi nói về những khu rừng lớn ở Amazon và Congo, các băng hà và các mạch nước ngầm, Đức giáo hoàng chỉ nói đơn giản: “Chúng tôi biết những thứ đó quan trọng đối với trái đất như thế nào...” (số 38). Cũng như các Thông điệp Công giáo khác về xã hội đã phân tích các vấn  đề như tư bản, công đoàn và tiền lương công bằng, Laudato Si’ dựa trên cả giáo huấn của Giáo hội và các nghiên cứu hiện đại trong các lĩnh vực khác –đặc biệt trong trường hợp này là khoa học–, để giúp con người ngày nay suy tư về những vấn đề này.
8) Thói dửng dưng và ích kỷ lan rộng làm cho vấn đề môi trường thêm trầm trọng
Đức giáo hoàng Phanxicô dành những lời phê phán mạnh mẽ nhất cho những người giàu không quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu, và nhất là ảnh hưởng của nó đối với người nghèo. “Nhiều người trong số những người sở hữu nhiều tài nguyên hơn dường như quan tâm chủ yếu đến việc che đậy các vấn đề hay giấu giếm các triệu chứng của các vấn đề ấy...” (số 26). Đức giáo hoàng đặt câu hỏi, tại sao có quá nhiều người giàu ngoảnh mặt với người nghèo? Không chỉ vì “một số người tự xem mình là xứng đáng hơn hơn những người khác”, nhưng vì thông thường những người ra quyết định lại sống “cách biệt với người nghèo”, không gặp gỡ thực sự anh chị em mình (số 90, 49). Ích kỷ cũng dẫn đến sự bốc hơi các khái niệm về công ích. Điều này không đơn giản chỉ ảnh hưởng đến những người ở các nước đang phát triển, mà còn ở ngay trong các thành phố của các nước phát triển, nơi mà ngài kêu gọi thực hiện điều có thể đặt tên là một “nền sinh thái của đô thị”. Trong thế giới của Laudato Si’ không có chỗ cho thói ích kỷ hay dửng dưng. Chúng ta không thể chăm sóc thiên nhiên “nếu cõi lòng chúng ta thiếu sự nhân hậu, lòng thương xót và quan tâm đến người đồng loại của chúng ta” (số 91).
9) Cần thiết phải có sự đối thoại và đoàn kết trên quy mô toàn cầu
Có lẽ hơn bất kỳ Thông điệp nào khác, Đức giáo hoàng Phanxicô dựa vào kinh nghiệm của nhiều người trên khắp thế giới, khi sử dụng những hiểu biết của các Hội đồng Giám mục như Hội đồng Giám mục Brazil, New Zealand, Nam Phi, Bolivia, Bồ Đào Nha, Đức, Argentina, Cộng hòa Dominica, Philippines, Australia và Hoa Kỳ. (Theo cách này, ngài cũng cho thấy nguyên tắc bổ trợ của Công giáo; nguyên tắc này phần nào dựa vào các kinh nghiệm và giải pháp địa phương). Hơn nữa, “cuộc đối thoại mới” và “cuộc tranh luận trung thực” mà ngài kêu gọi không phải là duy nhất trong Giáo hội Công giáo (số 14, 16). Trong Thông điệp, Đức giáo hoàng Phanxicô đã trích dẫn Đức Thượng phụ Bartholomaios, vị lãnh đạo Giáo hội Chính thống Đông phương, cũng như ý tưởng của một nhà thơ Sufi nữa. Thực tế, Đức Phanxicô kêu gọi đối thoại và tranh luận với “mọi người” về “ngôi nhà chung” của chúng ta (số 62, 155). Một cuộc đối thoại toàn cầu cũng là cần thiết bởi vì “không có những công thức như nhau”. Điều thích hợp ở vùng này lại không thích hợp ở vùng khác (số 180). Phạm vi toàn cầu của Thông điệp (trái với hình thức quy châu Âu) sẽ dễ dàng mời gọi cộng đồng thế giới hơn.
10) Phải thay đổi tâm hồn
Thực chất, Thông điệp này –được gửi đến “tất cả mọi người trên hành tinh”– là lời kêu gọi hãy có cái nhìn mới về sự vật, hãy thực hiện “cách mạng văn hoá triệt để” (số 3, 114). Chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng cấp bách, khi mà, vì những hành động của chúng ta, trái đất đã bắt đầu ngày càng trở nên, theo kiểu nói sống động của Đức Phanxicô, “một bãi rác khổng lồ” (số 21). Tuy nhiên, Thông điệp vẫn hy vọng, khi nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa luôn ở với chúng ta, rằng chúng ta có thể nỗ lực cả về phương diện cá nhân lẫn cùng nhau hợp tác để thay đổi tình hình. Chúng ta có thể thức tỉnh tâm hồn minh và hướng tới một “hoán cải về sinh thái”, trong đó chúng ta thấy được sự liên kết mật thiết giữa Thiên Chúa và mọi sinh vật, để sẵn sàng lắng nghe “tiếng kêu cứu của trái đất và tiếng khóc than của người nghèo” (số 49).
Để nói bằng ngôn ngữ tôn giáo, điều Đức giáo hoàng kêu gọi là phải hoán cải.

Huy Hoàng chuyển ngữ


Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

ĐTC: Chúa Giêsu gõ cửa tâm hồn bạn



VRNs (22.12.2014) -Sài Gòn-  theo news.va- Hôm qua Chúa Nhật 21.12, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các tín hữu phải lắng nghe một cách kính cẩn khi  Thiên Chúa đến và gõ cửa lòng mình. “Chúa Giêsu thường xuyên đi ngang qua cuộc sống của chúng ta, Ngài gửi sứ thần đến với chúng ta nhưng chúng ta thường bị cuốn vào những suy nghĩ và những quan tâm riêng nên đã không nhận ra tiếng Ngài”.
ĐTC đã nói như trên với khách hành hương quy tụ tại quảng trường Thánh Phêrô trong buổi đọc Kinh Truyền Tin Trưa Chúa Nhật. Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha mời gọi tín hữu suy niệm về bài Tin Mừng trong phụng vụ Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng, kể về câu chuyện Truyền Tin của Sứ Thần Gabriel cho Đức Maria và làm thế nào Mẹ đã khiêm tốn đón nhận và thưa lên tiếng “Vâng”. Mẹ nói: “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa. Xin Chúa hãy thực hiện cho tôi như lời Sứ thần truyền” (Lc 1, 38).
Đức Maria không hình dung được những gì xảy đến trong tương lai sau lời thưa “vâng” của mình. Mẹ không biết những đau khổ và những rủi ro mà sẽ phải đối mặt. Nhưng Mẹ đã nhận thức rằng, Chúa mời gọi Mẹ thực hiện một điều gì đó và Mẹ tin tưởng hoàn toàn nơi Thiên Chúa. Đó chính là đức tin của Mẹ Maria!
Một khía cạnh khác lưu ý là khả năng của Đức Maria để “nhận ra thời điểm của Thiên Chúa”. Nhờ Mẹ mà Con Thiên Chúa Nhập Thể mới được hoàn thành.
Đức Maria dạy chúng phải nhận ra thời điểm thuận lợi, mà Chúa Giêsu đi qua cuộc sống của chúng ta, và đòi hỏi chúng ta một lời đáp trả trong tinh thần sẵn sàng và quảng đại.
Và Chúa Giêsu luôn đi qua trong cuộc sống của chúng ta. Vào dịp Giáng, Ngài gõ cửa tâm hồn mỗi người Kitô hữu và mỗi người chúng ta được mời gọi để đáp trả lại giống như Đức Maria, với lòng chân thành và mỗi cá nhân biết thưa “vâng”, biết cậy dựa vào Thiên Chúa và lòng thương xót của Ngài.
Thường thì chúng ta chỉ lưu tâm đến suy nghĩ và mối quan tâm riêng của mình, thậm chí trong những ngày kế cận chuẩn bị đón Chúa Giáng sinh, chúng ta vẫn chưa nhận ra rằng, Ngài đang đến gõ cửa tâm hồn chúng ta, mời gọi chúng ta đáp tiếng “vâng”.
Nhắc lại lời của một vị Thánh đã nói “Tôi sợ Thiên Chúa sẽ đi qua tôi”. ĐTC giải thích rằng, thánh nhân sợ mình không nhận ra sự hiện diện của Chúa và không sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Ngài. Thái độ sợ hãi này, chúng ta cảm nhận trong lòng mình “thực sự Chúa đang gõ cửa” để muốn chúng ta tốt hơn, được gần gũi với Thiên Chúa và người khác hơn.
“Nếu đó là điều mà anh chị em cảm nhận được. Hãy tịnh tâm!” “Chúa đó! Hãy cầu nguyện, đi xưng tội, làm một số việc bác ái … điều này sẽ tốt. Nhưng hãy nhớ rằng: nếu anh chị em mong muốn được tốt hơn, Ngài đang gõ cửa tâm hồn và đừng để Ngài đi qua mà không mời ở lại! “
Và Đức Thánh Cha Phanxicô kết thúc bài huấn dụ bằng cách mời gọi nhìn đến khuôn mặt thinh lặng, và cầu nguyện của thánh Giuse, được kể lại trong mỗi dịp lễ Chúa Giáng Sinh.
Mẫu gương của Đức Maria và thánh Giuse là lời mời gọi cho tất cả chúng ta noi theo để đón nhận Chúa Giêsu cách đầy tràn. Ngài đến để ban ơn bình an: “bình an dưới thế cho người Chúa thương” (Lc 2, 14).
Cũng giống như các thiên thần nói với các mục đồng về quà tặng quý giá của đêm Giáng sinh chính là ơn bình an, và Chúa Kitô là Hòa bình đích thực của chúng ta: “Đức Kitô đang đến gõ cửa tâm hồn chúng ta, ban cho chúng ta sự bình an của Ngài. Chúng ta hãy mở những cánh cửa cho Chúa Kitô! “

Hoàng Minh


Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

ĐTC: Giáo hội là người mẹ chứ không phải con buôn



VRNs (20.12.20114) – theo news.va- Hôm thứ 6, 19.12, Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng có nhiều trường hợp ‘vô sinh’ trong Giáo hội và nơi dân Thiên Chúa, một loại vô sinh xuất phát từ quyền lực và sự ích kỷ. Giáo hội là một người mẹ chứ không phải là một con buôn. Đó là những ý chính trong bài giảng của ĐTC vào Thánh lễ sáng tại nguyện đường Santa Marta.  
Suy tư của ĐTC về ý tưởng vô sinh và làm mẹ được gợi hứng từ 2 bài đọc trong Kinh thánh kể về việc hạ sinh kỳ diệu của Samson và Gioan Tẩy Giả, cả hai đều được sinh ra từ những người mẹ bị mang tiếng hiếm muộn. Theo Kinh Thánh những ai bị hiếm muộn bị coi là dấu hiệu của một con người không có khả năng tiến về phía trước. Do đó Giáo Hội mời gọi chúng ta suy tư về vấn đề vô sinh nơi dân Chúa.
 Vô sinh và Sáng tạo mới
Từ việc vô sinh, Thiên Chúa có thể tái tạo một dòng dõi mới, một cuộc sống mới. Và đó là sứ điệp cho ngày nay. Khi nhân loại kiệt sức và không còn khả năng tiến về phía trước thì ân sủng Chúa đến, Con Chúa Trời đến để cứu độ chúng ta. Và đó chính là một cuộc Tạo Thành mở đường cho một cuộc sáng tạo mới.
Sứ điệp hôm nay là một cuộc sáng tạo thứ hai đem đến khi mà trái đất đã ra kiệt sức. Chúng ta đang chờ đợi sự mới mẻ của Thiên Chúa và đó là những gì Giáng sinh đem đến. Các bà mẹ của Samson và Gioan Tẩy Giả chỉ có thể sinh con nhờ tác động của Thần Khí Chúa. Và chúng ta tự hỏi rằng, sứ điệp Thánh Kinh muốn chuyển tải điều gì từ 2 câu chuyện này? Câu trả lời là chúng ta phải mở lòng ra cho Thánh Thần Chúa vì chúng ta không thể tự mình làm được điều gì cả.
 Mở ra cho sự mới mẻ của Thiên Chúa
Điều này làm cho tôi nghĩ đến Mẹ Giáo Hội của chúng ta. Đồng thời tôi cũng nghĩ đến những trường hợp ‘vô sinh’ ở trong Mẹ Giáo Hội chúng ta là vác gánh nặng của các Giới Răn, trường phái Pelagianism [cho rằng tự sức mình có khả năng đem đến ơn cứu độ], chúng ta mang nó trong xương tủy của chúng ta, và như thế trở nên vô sinh. Giáo Hội là một người mẹ và chỉ trở thành mẹ khi Giáo Hội mở ra cho sự mới mẻ của Thiên Chúa, cho sức mạnh của Thánh Thần. Khi Giáo hội nói với chính mình: “Tôi đã làm tất cả mọi thứ xong xuôi nhưng tôi không thể tiến về phía trước được nữa thì Chúa Thánh Thần sẽ đến”.
 Một người mẹ chứ không phải một con buôn
Đức Thánh Cha suy tư tiếp về Giáo hội cần mở ra để trở nên một người mẹ nhờ đức tin.
“Và hôm nay cũng là một ngày để cầu nguyện cho Mẹ Giáo Hội chúng ta, bởi vì còn nhiều trường hợp ‘vô sinh’ trong dân Thiên Chúa. Sự vô sinh xuất phát từ tính ích kỷ, từ đam mên quyền lực … khi Giáo Hội tin rằng mình có thể làm tất cả mọi thứ, Giáo hội mang lấy trách nhiệm về lương tâm của dân Chúa. Khi Giáo Hội đi theo con đường của những người Biệt phái, của phái Sa-đốc, theo lối mòn đạo đức giả thì Giáo Hội trở nên vô sinh. Chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo Hội.  Giáng sinh này là thời điểm mở ra đón nhận quà tặng của Thiên Chúa và phải biết ngạc nhiên trước hoạt động của Chúa Thánh Thần và đó chính là một Giáo Hội sinh con, một người mẹ Giáo Hội. Nhiều lúc tôi nghĩ rằng ở một số nơi, Giáo Hội dường như thể giống như là một con buôn hơn là một người mẹ.”
Đức Thánh Cha kết luận bài giảng của mình bằng cách khẩn nài Thiên Chúa ban ân sủng để có khả năng sinh sản và làm mẹ trong Giáo Hội để tất cả mọi thành phần trong Giáo Hội là một người mẹ, giống như Đức Maria.

Hoàng Minh


Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

BÀI GIÁO LÝ 9 CỦA ĐTC PHANXICÔ VỀ HỘI THÁNH: CÁC KITÔ HỮU NGOÀI CÔNG GIÁO



“Thật là đau đớn vì có những chia rẽ, có những Kitô hữu chia rẽ, chúng ta chia rẽ nhau.  Nhưng tất cả chúng ta đều có một điểm chung: chúng ta đều tin vào Chúa Giêsu Kitô, là Chúa.  Tất cả chúng ta đều tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và tất cả chúng ta cùng đi với nhau, chúng ta đang trên đường.  Chúng ta hãy giúp đỡ lẫn nhau!”
Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý của ĐTC Phanxicô được ban hành ngày 8tháng 10 năm 2014 trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lý mới về Hội Thánh.  Ngài giải thích về sự liên hệ của chúng ta với các Kitô Hữu ngoài Công Giáo.

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong bài giáo lý trước, chúng ta đã cố gắng làm sáng tỏ bản tính và vẻ đẹp củaHội Thánh, và tự hỏi rằng đối với mỗi người chúng ta, việc là phần tử của dân này,dân Thiên Chúa là Hội Thánh, có ý nghĩa gì.  Tuy nhiên, chúng ta không được quênrằng có rất nhiều anh chị em cùng chia sẻ đức tin của chúng ta trong Đức Kitô, nhưng thuộc các giáo phái khác hoặc các truyền thống khác chúng ta.  Nhiều người đã cam long chịu, ngay cả trong Hội Thánh Công Giáo của chúng ta cũng có những người cam chịu, sự chia rẽ này, là điều qua dòng lịch sử thường là nguyên nhân gây ra những xung đột và đau khổ, thậm chí cả chiến tranh, và đó là một điều hổ nhục!  Ngay cả ngày nay, các liên hệ cũng không luôn luôn dựa trên lòng tôn trọng và tìnhthân ái ... Tuy nhiên, tôi tự hỏi: còn chúng ta, chúng ta cảm thấy thế nào về tất cảnhững điều ấy?  Có phải chúng ta cũng cam chịu, nếu không thì cũng chẳng quan tâm gì đến sự chia rẽ này sao?  Hoặc chúng ta có tin chắc rằng chúng ta có thể và phải đi theo đường hướng hòa giải và hiệp thông trọn vẹn không?  Hiệp thông trọn vẹn, nghĩa là cùng nhau thông phần vào Mình và Máu Đức Kitô. 
Những chia rẽ giữa các Kitô hữu, khi làm tổn thương Hội Thánh thì cũng làm tổnthương Đức Kitô, và sự chia rẽ giữa chúng ta là căn nguyên của vết thương củaĐức Kitô: Quả thật, Hội Thánh là thân thể mà Đức Kitô là đầu.  Chúng ta biết Chúa Giêsu quan tâm thế nào đến việc các môn đệ kết hợp với nhau trong tình yêu củaNgười.  Chỉ cần nghĩ đến lời của Người được ghi lại trong chương 18 của Tin MừngThánh Gioan, lời cầu nguyện của Người với Chúa Cha trong đêm trước cuộc Khổ Nạn: “Lạy Cha Chí Thánh, xin gìn giữ những người mà Cha đã ban cho Con trong danh Cha, để họ nên một như Chúng Ta là một.” (Ga 17:11).  Sự hợp nhất này đãbị đe dọa khi Chúa Giêsu vẫn còn ở với những kẻ thuộc về Người:  Thực ra, trong Tin Mừng, chúng ta ghi nhận rằng các Tông Đồ đã tranh luận với nhau về việc ai là người lớn nhất, quan trọng nhất (Lc 9:46).  Tuy nhiên, Chúa đã nhấn mạnh rất nhiềuđến sự hợp nhất nhân danh Cha, và cho chúng ta hiểu rằng lời rao giảng và chứng từ của của chúng ta sẽ đáng tin cậy hơn nhiều nếu chính chúng ta có thể sống trong sự hiệp thông và thương yêu nhau.  Đó là điều mà sau đó các tông đồ của Người,với ân sủng của Chúa Thánh Thần, đã hiểu một cách sâu xa và ghi nhớ trong lòng,đến nỗi Thánh Phaolô phải van xin cộng đoàn Côrintô bằng những lời này:  “Nhân danh Đức Chúa Giêsu Kitô của chúng ta, tôi van nài tất cả anh em hãy đồng thanh nói cùng một điều, và đừng chia rẽ nhau nữa, nhưng hãy một lòng một ý đoàn kết với nhau” (1 Cor 1:10).
Trong cuộc hành trình qua lịch sử, Hội Thánh bị cám dỗ bởi ma quỉ là kẻ cố gắng chia rẽ, và chẳng may đã bị tổn thương trầm trọng và đau đớn vì những cuộc phân ly.  Những chia rẽ ấy đôi khi kéo dài một thời gian dài, cho đến ngày nay, vì vậy rất khó mà tái tạo tất cả những lý do nói trên và tìm ra những giải pháp khả thi. Những lý do dẫn đến sự rạn nứt và phân ly có thể rất khác nhau: từ những khác biệt về những nguyên tắc tín lý và luân lý cùng những quan niệm về thần học và mục vụkhác nhau, đến những lý do chính trị và tư lợi, cho đến các cuộc bạo động vì thù nghịch cá nhân và tham vọng ....  Điều chắc chắn là, bằng cách này hay cách khác,đằng sau những xâu xé này luôn luôn có sự kiêu căng và ích kỷ, là căn nguyên củanhững bất đồng khiến chúng ta trở nên cố chấp, không thể lắng nghe và chấp nhậnnhững người có quan điểm hoặc lập trường khác mình.
Giờ đây, trước tất cả những điều này, có điều gì mỗi người chúng ta, như những phần tử của Mẹ Thánh Hội Thánh, có thể và phải làm?  Chắc chắn không được bỏ cầu nguyện, trong sự liên tục và hiệp thông với Chúa Giêsu, cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu.  Và cùng với cầu nguyện, Chúa cũng yêu cầu chúng ta tái mở lòng ra: yêu cầu chúng ta đừng đóng lòng lại mà không chịu chấp nhận đối thoại và gặp gỡ, nhưng thu lượm tất cả những gì là đáng giá và tích cực được cung cấp cho chúng ta bởi những người nghĩ khác chúng ta hay có những lập trường khác chúng ta.  Người yêu cầu chúng ta đừng chỉ nhìn đến những gì chia rẽ chúng ta, mà nhìn đến những gì liên kết chúng ta, cố gắng biết rõ hơn và yêu mến Chúa Giêsuhơn cùng chia sẻ sự phong phú của tình yêu Người.  Và điều này có nghĩa là gắn bó với chân lý một cách cụ thể, cùng với khả năng tha thứ, cảm thấy là phần tử của cùng một gia đình Kitô giáo, coi nhau như một món quà cho nhau và cùng nhau làm nhiều việc lành và các việc bác ái.
Thật là đau đớn vì có những chia rẽ, có những Kitô hữu chia rẽ, chúng ta chia rẽnhau.  Nhưng tất cả chúng ta đều có một điểm chung: chúng ta đều tin vào Chúa Giêsu Kitô, là Chúa.  Tất cả chúng ta đều tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và tất cả chúng ta cùng đi với nhau, chúng ta đang trên đường.  Chúng ta hãy giúp đỡ lẫn nhau!  Nhưng anh nghĩ thế này, chị nghĩ thế kia... Trong mỗi cộng đồng có những thần học gia giỏi: họ thảo luận, họ tìm chân lý theo thần học bởi vì đólà một nhiệm vụ, nhưng chúng ta cùng đi với nhau, cầu nguyện cho nhau và làm việc bác ái.  Và do đó, hiệp thông với nhau trên đường.  Điều này được gọi là tinh thầnđại kết: cùng đi với nhau trong hành trình cuộc sống trong đức tin của chúng ta vàoĐức Chúa Giêsu Kitô.  Người ta nói rằng không nên nói về những điều cá nhân,nhưng tôi không thể chống lại được cám dỗ.  Chúng ta đang nói về ... sự hiệp thônggiữa chúng ta.  Và hôm nay, tôi cảm tạ Chúa rất nhiều, hôm nay kỷ niệm 70năm ngày Rước Lễ Lần Đầu của tôi.  Nhưng khi rước lễ lần đầu tất cả chúng ta phải biết rằng đó có nghĩa là bước vào sự hiệp thông với người khác, vào sự hiệp thôngvới anh chị em của Hội Thánh của chúng ta, mà còn hiệp thông với tất cả những aithuộc về các cộng đồng khác, nhưng tin vào Chúa Giêsu.  Chúng ta cảmtạ Chúa vì Bí Tích Rửa Tội của mình, chúng ta cảm tạ Chúa vì sự hiệp thông củamình, và cuối cùng sự hiệp thông ấy sẽ đưa tất cả lại với nhau.
Các bạn thân mến, chúng ta hãy tiến đến sự hiệp nhất trọn vẹn!  Lịch sử đã phân ly chúng ta, nhưng chúng ta đang trên đường tiến đến hòa giải và hiệp thông!  Và điều này có thật!  Và chúng ta phải bảo vệ điều này!  Tất cả chúng ta đang đi trênmột cuộc hành trình hướng về sự hiệp thông.  Và khi chúng ta thấy mục tiêu có thể có vẻ quá xa vời, hầu như không thể đạt được, chúng ta cảm thấy thất vọng, thì chúng ta được an ủi với ý nghĩ rằng Thiên Chúa không thể bịt tai trước tiếng nói của Con Ngài là Chúa Giêsu mà không đáp lại lời cầu nguyện của Người và của chúng ta, rằng xin cho tất cả các Kitô hữu được thực sự nên một.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Tác giả:  Phaolô Phạm Xuân Khôi (chuyển ngữ)

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Suy niệm cùng với Đức Thánh Cha Phanxicô: 25/09-01/10/2014 - Câu chuyện Chúa Giêsu giảng dạy cho người phụ nữ xứ Samari



1. Để hiểu Chúa Kitô, chúng ta phải vác thánh giá

Một Kitô hữu không có Thánh giá, không sẵn sàng vác thánh giá với Chúa Giêsu thì không thể hiểu Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên trong bài giảng Thánh lễ sáng thứ Sáu 26 tháng 09, tại nhà nguyện Santa Marta.

Là một Kitô hữu nghĩa là trở thành một “ông Simon thành Cyrene” khác. Đức tin bao gồm điều này: Nếu bạn chịu mang lấy gánh nặng thánh giá Chúa thì bạn sẽ thuộc về Ngài. Nếu không bạn, đang đi một con đường xem ra “bằng phẳng” đấy nhưng đó là một thứ đường đi không đến.

Nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha xoay quanh bài Phúc Âm trong ngày kể lại việc Chúa Giêsu hỏi các tông đồ về căn tính của Ngài và nhận được nhiều câu trả lời khác nhau. Đoạn Tin Mừng này diễn ra bối cảnh Chúa Giêsu mặc khải “cách đặc biệt về căn tính thật sự của Ngài.” Trong nhiều trường hợp, khi có ai muốn tiết lộ căn tính của Ngài, “Ngài ngăn cản họ”, cũng giống như nhiều lần Ngài cấm ma quỷ tiết lộ về căn tính Ngài là “Con Thiên Chúa,” Đấng đến để cứu độ thế gian. Là vì mọi người hiểu lầm và nghĩ rằng Đấng Cứu Thế là một nhà lãnh đạo quân sự sẽ trục xuất những người La Mã. Chỉ trong riêng tư, với Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu mới “bắt đầu giáo huấn về căn tính thực sự của mình”.

Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sống lại.” Đây là con đường giải thoát cho anh chị em. Đây là con đường của Đấng Mêsia: chịu Khổ Nạn, Thánh giá. Ngài giải thích về căn tính của Ngài cho các môn đệ. Họ không muốn hiểu và trong Tin Mừng Mátthêu, ta còn thấy Phêrô ra sức ngăn cản Chúa: “Không! Không, Đừng để Thầy bị như vậy … Chúa Giêsu bắt đầu mặc khải về căn tính thật sự của mình. Ta là Con Thiên Chúa. Nhưng đây là con đường của Ta: phải bước đi trên con đường khổ nạn”.

Đức Thánh Cha nói rằng, đây là khoa “sư phạm” mà Chúa Giêsu dùng “để chuẩn bị tâm hồn cho các môn đệ và dân chúng hiểu về mầu nhiệm Thiên Chúa”.

“Tình yêu Thiên Chúa che lấp muôn vàn tội lỗi và Ngài cứu chúng ta theo cách này: đó là con đường Thánh giá. Không có Thánh giá, bạn không thể hiểu được Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế. Chúng ta có thể nhận ra nơi Ngài là một ngôn sứ vĩ đại, Ngài làm những điều tốt đẹp, Ngài là một vị thánh. Nhưng nếu không có thánh giá bạn không thể hiểu Chúa Kitô như là một Đấng Cứu Thế. Tâm hồn của các môn đệ, tâm hồn của dân chúng chưa chuẩn bị sẵn sàng để hiểu mầu nhiệm này. Họ không hiểu được những lời tiên báo, cũng như không hiểu rằng chính Ngài là Con Chiên đền tội. Họ chưa được chuẩn bị.”

Vào Chúa Nhật Lễ Lá, khi Chúa Kitô tiến vào Giêrusalem, đám đông theo Ngài đã tung hô về căn tính của Ngài “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!” Mặt khác, chỉ sau cái chết của Chúa Giêsu danh tính của Ngài mới tỏ hiện cách viên mãn; “lời thú nhận đầu tiên” đã được đưa ra từ miệng viên đội trưởng Rôma: “Quả thật Người này là Con Thiên Chúa”.

Chúa Giêsu đã chuẩn bị từng bước một để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về Ngài. Ngài chuẩn bị cho chúng ta cùng đi với Ngài theo con đường đưa đến Ơn Cứu Độ”

“Ngài chuẩn bị cho chúng ta nên như ‘Simon thành Cyrene,’ người vác đỡ thánh giá Chúa. Nếu đời Kitô hữu của chúng ta thiếu điều này, chúng ta không phải là Kitô hữu, chỉ có thể là một đời sống tinh thần tốt … Nhưng Chúa Giêsu đã chọn con đường thánh giá để cứu chúng ta và chúng ta cùng đi chung một con đường với Ngài. Chúng ta mang danh Kitô hữu không phải nhờ vào những công đức của chúng ta nhưng đó là một hồng ân.

2. Phù vân, quả là phù vân

“Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu đựng bao gian lao vất vả dưới ánh nắng mặt trời? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến …Chẳng ai còn nhớ đến người xưa, và đối với những người đến sau thì cũng thế; các thế hệ mai sau sẽ chẳng còn nhớ đến họ.”

Trong Thánh lễ sáng 25 tháng 9 tại tại nhà nguyện Santa Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng hãy cẩn trọng về tính chất phù vân của đời tạm này, vì cuối cùng mọi sự thế gian mà chúng ta gầy dựng cũng chỉ như “bong bóng xà phòng” mà thôi.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày những suy tư trên dựa vào sách Giảng Viên trong đoạn nói về tính chất phù vân của đời người. Phù hoa là một tên cám dỗ không chỉ đối với dân ngoại mà còn với các Kitô hữu, những người có đức tin.

Chúa Giêsu thường quở trách những người tự hào, khoe khoang. Ngài nói với các Luật sĩ, Kinh sư rằng họ không nên “đi ngoài đường” với “tua áo dài sang trọng,” như “hoàng tử”. Khi bạn cầu nguyện đừng để cho người khác nhìn thấy. Cầu nguyện nơi bí ẩn và vào phòng đóng cửa lại.”

Khi giúp đỡ người nghèo cũng nên làm như vậy: “Không thổi kèn, đánh phèng la, chũm choẹ, nhưng hãy làm điều đó cách kín đáo. Cha trên trời biết là đủ.”

“Khi ăn chay anh em cũng đừng làm ra bộ u sầu để mọi người thấy anh em ăn chay. Nhưng khi ăn chay anh em phải vui mừng, làm việc sám hối với niềm vui, để không ai biết anh đang ăn chay.”

Phù hoa là lối sống thích “thể hiện ra bên ngoài, sống để cho mọi người thấy.”

Kitô hữu cũng bị cám dỗ sống khoe hoang như thế. Đó chỉ là sự phù hoa, vênh vang, họ khoe mẽ như một con công khoe bộ lông. Đó là những người vỗ ngực tự hào nói: “Tôi là một Kitô hữu, tôi là một linh mục, một nữ tu, một giám mục; gia đình tôi là đạo dòng.”

Đức Thánh Cha hỏi: “Cuộc sống của bạn với Chúa rao sao? Bạn cầu nguyện như thế nào? Bạn có sống bác ái, xót thương với người khác không? Bạn có đi thăm viếng kẻ liệt lào đau ốm không? Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phải xây dựng ngôi nhà của mình tức là đời sống Kitô hữu trên đá tảng là sự thật. Mặt khác, Ngài cũng cảnh báo rằng thật vô ích nếu xây dựng nhà mình trên cát, bởi vì nó không có khả năng chống lại những chước cám dỗ.

Có bao nhiêu Kitô hữu đang sống khoe khoang? Cuộc sống của họ chỉ như bong bóng xà phòng. Bong bóng xà phòng rực rỡ với các màu sắc của nó, nhưng nó chỉ kéo dài một ngày thôi. Và sau đó còn lại là gì? Khi chúng ta dự lễ an táng, chúng ta sẽ thấy cuối cùng chỉ là phù vân bởi vì sự mọi sự đều trở về với đất. Như Vị Tôi Tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã nói. “Đất trống đang chờ đợi chúng ta, đó là thực tại cuối cùng của chúng ta.” Trong khi chờ đợi, tôi tự hào khoe khoang hay tôi phải làm một cái gì đó? Tôi phải làm gì cho tốt đây? Tôi có tìm kiếm Thiên Chúa không? Tôi có cầu nguyện không? Phù hoa chính là tên lừa phỉnh, hắn lừa phỉnh chính hắn, hắn chỉ là tên rỗng tuếch, hắn hứa hẹn đủ điều nhưng cuối cùng hắn chỉ tìm kiếm chính hắn.

Và điều này rất gần với những gì đã xảy ra với Vua Hêrôđê như Tin Mừng nhắc đến hôm nay. Đó là người đã cảm thấy vô cùng lo lắng bất an khi điều tra về danh tính của Chúa Giêsu.

Phù vân gieo vào lòng người sự lo lắng. Nó làm mất đi sự bình an. Nó giống như những người đã quá tỉ mỉ trang điểm và bây giờ thì sợ đi ra ngoài vào trời mưa, vì sẽ làm tiêu tan hết những gì họ đã cố gắng điểm trang.

Phù hoa không mang lại cho chúng ta sự bình an, chỉ có sự thật mới cho chúng ta sự bình an mà thôi.

Chúa Giêsu là đá tảng vững chắc mà chúng ta hãy xây đời mình trên đó. Chúng ta đọc lại mưu mô của ma quỷ đã dùng sự phù hoa để cám dỗ Chúa Giêsu trong sa mạc. Hắn nói với Ngài: “Hãy đến đây, chúng ta hãy đi lên đền thờ, chúng ta sẽ thấy tất cả vinh quang phú quý trong thiên hạ. Hãy quỳ bái ta đi thì ông sẽ được những thứ đó. Con quỷ cho Chúa Giêsu thấy sự phù vân. Phù vân là căn bệnh nghiêm trọng cho tinh thần.”

Các Thánh Giáo Phụ Ai Cập ẩn tu trong sa mạc nói rằng phù hoa là một cơn cám dỗ mà cả đời chúng ta phải chống lại nó, bởi vì nó luôn quay lại làm cho chúng ta xa rời sự thật. Và để hiểu được điều này, các vị khuyên: Phù hoa giống như một củ hành tây. Bạn cầm nó và bắt đầu bóc từng lớp phù hoa của nó ra. Ngày từng ngày bạn bóc từng lớp phủ phù hoa ra. Như bạn đang vượt thắng được nó. Và cuối cùng bạn sẽ hài lòng: tôi đã loại bỏ các tính hư, tôi đã bóc từng lớp phù hoa của vỏ hành nhưng mùi của nó vẫn còn vương lại trên tay bạn.

Chúng ta hãy nài xin ơn Chúa để không bị vướng vào phù hoa nhưng luôn biết nhận ra sự thật chân thực về chính mình và về Tin Mừng.

3. Câu chuyện Chúa Giêsu giảng dạy cho người phụ nữ xứ Samari

Trước khi bị thất thủ vào năm 721 trước Chúa Giáng Sinh, Samari là miền đất thuộc về dân Giavê Thiên Chúa- nơi ở dưới chân núi Gơridim, còn lưu lại dấu tích một cái giếng rất cổ xưa được xem là giếng của tổ phụ Giacóp. Sau khi bị các dân ngoại xâm lăng, bị áp đặt niềm tin tôn giáo, và bị những người Do Thái khinh rẻ người Samari đã ly giáo. Từ đó giữa Do Thái và Samari trở nên thù địch không đội trời chung. Tuy nhiên, tại chính miền đất hận thù này một áng văn tuyệt tác của Tin Mừng theo Thánh Gioan đã ghi lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ xứ Samari.

Khi ấy Chúa Giêsu đến một thành xứ Samari, tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Ðức Giêsu nói với người ấy:

"Chị cho tôi xin chút nước uống!"

Quả thế, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.

Người phụ nữ Samari liền nói: "Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?"

Quả thế, người Do Thái không được giao thiệp với nguòi Samari.

Ðức Giêsu trả lời:

"Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống".

Chị ấy nói:

"Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy".

Ðức Giêsu trả lời:

"Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.

Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời".

Người phụ nữ nói với Ðức Giêsu:

"Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước".

Người bảo chị ấy:

"Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây".

Người phụ nữ đáp: "Tôi không có chồng".

Ðức Giêsu bảo:

"Chị nói: 'Tôi không có chồng' là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng".

Người phụ nữ nói với Người:

"Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ... Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi thờ phượng Thiên Chúa".

Ðức Giêsu phán:

"Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này

hay tại Giêrusalem. Các người thờ Ðấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đã đến - và chính lúc này đây

giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật".

Người phụ nữ thưa:

"Tôi biết Ðấng Mêsia, gọi là Ðức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự".

Ðức Giêsu nói:

"Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây".

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Thoạt đầu, khi khựng lại ở mức độ cụ thể của đời thường, người phụ nữ Samari không hiểu gì về những điều Chúa nói, nên Chúa đã đi thêm một bước nữa, Ngài nói với chị về đời tư của chị, khi đó chị nhận ra ngay Ngài là một ngôn sứ. Điều đáng kinh ngạc ở đây là chính cái quá khứ không ra gì của chị đã làm cho chị nhận biết Đức Kitô và trở thành người có khả năng nói về Chúa: "Đến mà xem: Có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao ?". Mọi người tin lời chị, họ đến gặp Chúa Giêsu và họ cũng tin Chúa. Như vậy, sau khi gặp Chúa Giêsu, người phụ nữ đã tin và làm chứng cho Chúa giữa những người Samari trong thành, và những người này, sau khi gặp Chúa, đã xin Chúa ở lại với họ, và hân hoan tuyên xưng rằng: "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian".

Kinh nghiệm của người phụ nữ xứ Samari cho thấy muốn gặp gỡ Chúa là điều rất dễ, bởi vì chính Chúa yêu thương chúng ta, ngày ngày đi tìm và đến gõ cửa tâm hồn mỗi người chúng ta dù cho quá khứ chúng ta chẳng ra gì. Hãy nhớ lời Chúa nói: "Này Ta đang đứng ngoài cửa và gõ, ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà kẻ ấy". Như vậy có nghĩa là cuộc gặp gỡ hoàn toàn tùy thuộc nơi chúng ta, tùy thuộc vào thái độ sẵn sàng của chúng ta. Có thể Chúa Giêsu đã tìm đến gõ vào cánh cửa của tâm lòng chúng ta nhiều lần rồi, nhưng chúng ta say ngủ hay bận bịu trăm công ngàn việc hoặc trong tâm lòng chúng ta có quá nhiều tiếng ồn ào và quá nhiều khách khứa nên chúng ta đã không nghe thấy tiếng Ngài và không mở cửa cho Ngài. Nếu thế thì cần phải có những quyết định cụ thể và thay đổi ngay thế nào để khi Chúa đến gõ cửa, chúng ta sẵn sàng mở ngay. Có thể Chúa đang gõ cửa tâm lòng chúng ta ngay trong lúc này, chúng ta đừng bõ lỡ cơ hội.

4. Căn cội của đời sống Kitô là gì?

Trong bài giảng hôm thứ Ba 23 tháng 09, tại nhà nguyện Santa Marta, Đức Thánh Cha đã bàn đến hai yếu tính căn bản của đời sống Kitô. Đó là lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

Lời giảng của Chúa Kitô có tác động mạnh đến dân chúng, đó là lý do tại sao rất đông dân chúng đã đi theo để nghe Lời Ngài. Lời của Chúa Kitô có “sức mạnh cứu rỗi”. Dù vậy, đã có những người đi theo Ngài “vì lợi ích cá nhân”, hoặc những mưu toan “không ngay chính trong tâm hồn”, hoặc mong được “một chút lợi nào đó” mà thôi. Điều ấy vẫn lặp lại trong hai ngàn năm qua. Thậm chí ngày nay, vẫn tái hiện trong hình ảnh 9 người phong hủi trong Tin Mừng được Chúa chữa khỏi bệnh đã “quên” mất ơn nghĩa với Chúa.

Tin Mừng (x.Lc 8,19-21) kể: Chúa Giêsu đang giảng dạy dân chúng, những người vây quanh Chúa và được Chúa yêu, đến nỗi Ngài nói “đây là mẹ tôi và đây là anh em của tôi.” Chúa Giêsu giải thích: “đó những người lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.”

Và đây là hai điều kiện để theo Chúa Giêsu: lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành. Đời sống Kitô không có gì hơn ngoài hai điều đó. Đơn giản vậy thôi! Có thể chúng ta đã làm cho Lời Chúa thêm rắc rối, giải thích dài dòng đến nỗi người ta không hiểu. Nhưng đời sống Kitô hữu là gì: Lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

Như đã được kể trong Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu đã trả lời cho người đến nhắn với Ngài là có người thân đến tìm Ngài như sau: “Mẹ tôi và anh em tôi là những người lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành”. Nghe Lời Chúa không phải nghe theo kiểu bình thường: tai này lọt tai kia, nhưng phải chăm chú lắng nghe, suy gẫm, phải nghi nhớ điều này “Lắng nghe Lời Chúa”, nghĩa là “đọc Lời Chúa và tự chất vấn” rằng: “Lời ấy đang nói gì với tôi? Lời ấy tác động trong tâm hồn tôi ra sao? Chính Thiên Chúa đang nói gì với tôi qua Lời của Ngài”. Cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi khi chúng ta tự chất vấn trước Lời của Chúa như thế.

Mỗi khi chúng ta mở sách Tin Mừng đọc một đoạn, chúng ta hãy tự chất vấn mình: “Thiên Chúa đang nói với tôi điều gì? Có phải Ngài đang nói gì đó với tôi không? Và nếu Ngài đang nói điều gì đó, thì đó là điều gì?” Đây là cách chúng ta lắng nghe Lời Chúa: lắng nghe bằng tai và bằng tâm hồn. Hãy mở rộng tâm hồn mình cho Lời Chúa. Những kẻ thù ghét Chúa cũng nghe Lời Chúa nhưng để tìm chỗ sai, để bắt bẻ nhằm hạ nhục Ngài. Họ không bao giờ tự chất vấn mình: “Thiên Chúa đang nói gì với tôi trong Lời này?” Lời của Thiên Chúa không chỉ nói cho tất cả chúng ta nhưng còn cho từng người một trong chúng ta.

Đem ra thực hành những gì đã nghe không phải “dễ dàng”. Thật vậy, chúng ta luôn bị cám dỗ để nghĩ rằng có thể chúng ta sẽ dễ chịu hơn khi không phải lo lắng, bận tâm đến nhu cầu cấp bách của Lời Chúa.

Chúa Giêsu đón nhận tất cả mọi người, thậm chí những kẻ đã nghe Lời Chúa nhưng sau đó phản bội Ngài. Hãy suy nghĩ về Giuđa. Chúa Giêsu đã nói với Giuđa “Bạn ơi” ngay khi ông chuẩn bị phản bội Ngài.

Chúa Giêsu luôn luôn gieo Lời Ngài và đòi hỏi chúng ta cần có một tâm hồn rộng mở để có thể đón nhận, lắng nghe và đem ra thực hành. Vì vậy chúng ta hãy cầu nguyện với Thánh Vịnh 119: 35 rằng: “Lạy Chúa, xin dẫn con đi trong đường lối huấn lệnh của Chúa”. Đường lối Chúa là lắng nghe Lời Ngài và đem ra thực hành.

5. Các thiên thần bảo vệ chúng ta

Các thiên thần giao chiến với Satan vì số phận của nhân loại và đã giành chiến thắng. Các ngài bảo vệ mầu nhiệm cao cả nơi Giáo Hội là Thiên Chúa làm Người. Các ngài luôn bảo vệ chúng ta cho dẫu cho Satan luôn bày mưu chống lại những điều tốt đẹp nơi con người. Đó là những điểm chính trong bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô tại nguyện đường Santa Marta trong Thánh Lễ sáng thứ Hai 29 tháng 09, lễ kính các Tổng lãnh Thiên thần Michael, Gabriel và Raphael.

Bài đọc của ngày hôm nay trình bày cho chúng ta hình ảnh rất ấn tượng: viễn cảnh về vinh quang Thiên Chúa được ngôn sứ Daniel mô tả với hình ảnh Con Người, đó là Chúa Giêsu Kitô.

Tổng lãnh thiên thần Michael và các thiên thần của ngài chiến đấu chống lại “con mãnh xà, là con rắn xưa, kẻ được gọi là ma quỷ” và “chuyên quyến rũ con người”, và nó đã bị đánh bại, như Sách Khải Huyền trình bày.

Trong Tin Mừng Chúa Giêsu nói với Nathanael: “Anh sẽ thấy trời mở ra và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người”. Đức Thánh Cha nói về “cuộc đấu tranh giữa Thiên Chúa và ma quỷ”.

“Cuộc đấu tranh này diễn ra sau khi Satan tìm cách tiêu diệt người phụ nữ sắp sinh con. Satan vốn luôn tìm cách tiêu diệt con người. Con Người mà ông Daniel đã thấy xuất hiện trong vinh quang, cũng là Đấng mà Chúa Giêsu nói với Nathanael. Khởi đầu Kinh Thánh cho chúng ta biết: Satan là tên quyến rũ con người. Chúng ta cũng đọc trong Thánh Vịnh 8: ‘Chúa cho con người trỗi vượt hơn một số các thiên thần, một sinh vật thấp kém hơn lại trỗi vượt hơn, và vì vậy thiên thần vốn có trí tuệ thông minh siêu vời đã không thể chịu được sự sỉ nhục này, đã trở nên satan tìm cách tiêu diệt con người”.

“Vì vậy, chúng bày ra nhiều âm mưu làm tha hóa con người vì hắn ghét loài người. Satan là tên dối trá. Trang đầu sách Sáng Thế nói với chúng ta như vậy, hắn là tên dối trá. Hắn lừa phỉnh chúng ta làm như thể mọi thứ điều tốt đẹp. Nhưng thật ra âm mưu của chúng là hủy diệt. Và các thiên thần bảo vệ chúng ta. Các ngài bảo vệ con người và bảo vệ Đấng vừa là Con Người vừa là Thiên Chúa, đó chính là Chúa Giêsu Kitô, một Con Người hoàn hảo trong nhân loại. Đây là lý do tại sao Giáo Hội tôn kính các Thiên thần, vì các ngài đang ở trong vinh quang của Thiên Chúa, bảo vệ mầu nhiệm kín ẩn nơi Thiên Chúa, đó là Ngôi Lời nhập thể.”

“Nhiệm vụ của các thiên thần trong vinh quang Thiên Chúa là bảo vệ con người: con người Giêsu vì Ngài đã trao ban sự sống của mình cho tất cả mọi người”. Ngược lại kế hoạch của Satan là hủy diệt, ý định của hắn là chống lại những điều tốt đẹp nơi con người, chống lại nhân loại và chống lại Thiên Chúa”.

“Cuộc giao tranh này là một thực tại luôn diễn ra hàng ngày trong đời sống tín hữu, trong tâm hồn chúng ta, trong cuộc sống của chúng ta, trong gia đình chúng ta và trong giáo xứ chúng ta … Nếu chúng ta không chiến đấu chống lại Satan chúng ta sẽ bị đánh bại. Nhưng Chúa đã ban chúng ta các thiên thần để giúp chúng ta chiến đấu và giành chiến thắng. Và đoạn kết trong sách Khải Huyền là lời ca chiến thắng:

“Thiên Chúa chúng ta thờ

giờ đây ban ơn cứu độ,

giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền,

và Ðức Kitô của Người

giờ đây cũng biểu dương quyền bính,

vì kẻ tố cáo anh em của ta,

ngày đêm tố cáo họ trước tòa Thiên Chúa,

nay bị tống ra ngoài.”

Đức Thánh Cha kết luận bài giảng bằng việc mời gọi tín hữu luôn cầu nguyện với các Tổng lãnh Thiên Thần Michael, Gabriel và Raphael. Lời kinh cổ xưa nhưng thật đẹp hay dùng dâng kính Tổng Lãnh Thiên Thần Michael: “Nguyện xin ngài tiếp tục chiến đấu và bảo vệ những bí mật lớn nhất của nhân loại đó là: Ngôi Lời làm Người, chết và sống lại. Đây là kho báu của chúng con. Xin Ngài hãy chiến đấu để bảo vệ nó”.

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

ĐTC: Căn bản của đời sống Kitô hữu là gì?




VRNs (24.09.2014) -Sài Gòn- Theo news.va- Trong bài giảng hôm thứ Ba 23.09, tại nguyện đường Santa Marta, Đức Thánh Cha nói đến căn bản của đời sống Ki-tô hữu là gì? Đó là lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.
Lời giảng của Chúa Kitô có tác động mạnh đến dân chúng, đó là lý do tại sao rất đông dân chúng đã đi theo để nghe Lời Ngài. Lời của Chúa Kitô có “sức mạnh cứu rỗi”. Dù vậy, đã có những người đi theo Ngài “vì lợi ích cá nhân”, hoặc “không ngay chính trong tâm hồn”, hoặc mong được “một chút lợi nào đó” mà thôi. Điều ấy vẫn lặp lại trong hai ngàn năm qua. Thậm chí ngày nay, vẫn tái hiện hình ảnh 9 người phong hủi trong Tin Mừng được Chúa chữa khỏi bệnh đã “quên” mất ơn nghĩa với Chúa.
Tin Mừng (x.Lc 8,19-21) kể: Chúa Giêsu đang giảng dạy dân chúng, những người vây quanh Chúa và được Chúa yêu, đến nỗi Ngài nói “đây là mẹ tôi và đây là anh em của tôi.” Chúa Giêsu giải thích: “đó những người lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.” Và đây là hai điều kiện để theo Chúa Giêsu: lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành. Đời sống Kitô không có gì hơn ngoài hai điều đó. Đơn giản vậy thôi! Có thể chúng ta đã làm cho Lời Chúa thêm rắc rối, giải thích dài dòng đến nỗi người ta không hiểu. Nhưng đời sống Kitô hữu là gì: Lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.
Như được kể trong Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu đã trả lời cho người đến nhắn với Ngài là có người thân đến tìm Ngài như sau: “Mẹ tôi và anh em tôi là những người lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành”. Nghe Lời Chúa không phải nghe theo kiểu bình thường: tai này lọt tai kia, nhưng phải chăm chú lắng nghe, suy gẫm, phải nghi nhớ điều này “Lắng nghe Lời Chúa”, nghĩa là “đọc Lời Chúa và tự chất vấn” rằng: “Lời ấy đang nói gì với tôi? Lời ấy nói trong tâm hồn tôi ra sao? Chính Thiên Chúa đang nói gì với tôi qua Lời của Ngài”.  Cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi khi chúng ta tự chất vấn trước Lời  của Chúa như thế.
Mỗi khi chúng ta mở trang Tin Mừng đọc một đoạn và tự chất vấn mình: “Thiên Chúa đang nói với tôi điều gì? Có phải Ngài đang nói gì đó với tôi không? Và nếu Ngài đang nói điều gì đó, thì đó là điều gì?” Đây là cách chúng ta lắng nghe Lời Chúa: lắng nghe bằng tai và bằng tâm hồn. Hãy mở rộng tâm hồn mình cho Lời Chúa. Những kẻ thù ghét Chúa cũng nghe Lời Chúa nhưng để tìm chỗ  sai, để bắt bẻ nhằm hạ nhục Ngài. Họ không bao giờ tự chất vấn mình: “Thiên Chúa đang nói gì với tôi trong Lời này?” Lời của Thiên Chúa không chỉ nói cho tất cả chúng ta nhưng còn cho từng người một trong chúng ta.
Đem ra thực hành những gì đã nghe  không  phải “dễ dàng”. Có thể chúng ta sẽ dễ chịu hơn khi không phải lo lắng, bận tâm đến nhu cầu cấp bách của Lời Chúa.
Chúa Giêsu đón nhận tất cả mọi người, thậm chí những kẻ đã nghe Lời Chúa nhưng sau đó phản bội Ngài. Hãy suy nghĩ về Giuđa. Chúa Giêsu đã nói với Giuđa khi ông chuẩn bị phản bội Ngài: “Này bạn!” 
Chúa Giêsu luôn luôn gieo Lời của Ngài và đòi hỏi chúng ta cần có một tâm hồn rộng mở để có thể đón nhận, lắng nghe và đem ra thực hành. Vì vậy chúng ta hãy cầu nguyện với Thánh Vịnh 119: 35 rằng: “Lạy Chúa, xin dẫn con đi trong đường lối huấn lệnh của Chúa”. Đường lối của Chúa là lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.
Hoàng Min


Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

Thế Giới Nhìn Từ Vatican 12 – 18/09/2014 – Kỷ niệm 100 năm thế chiến thứ I

1. Họp báo về chuyến viếng thăm Albania của Đức Thánh Cha

Chúa Nhật 21 tháng 9, Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ đến thăm Albania. Đây sẽ là chuyến tông du quốc tế thứ tư của ngài, nhưng là chuyến viếng thăm đầu tiên một nước châu Âu bên ngoài nước Ý.

Đức Giáo Hoàng dự kiến sẽ đến thủ đô Albania lúc 09:00 sáng. Lễ nghi chào đón chính thức sẽ diễn ra tại dinh Tổng thống, nơi Đức Thánh Cha sẽ có bài nói chuyện với các nhà lãnh đạo dân sự.

Trong một cuộc họp báo hôm Thứ Hai 15 tháng 9, Cha Federico Lombardi cho biết, cao điểm của chuyến tông du là thánh lễ tại quảng trường Mẹ Têrêsa.

"Lúc 11:00, Thánh Lễ sẽ được cử hành tại Quảng trường Mẹ Têrêsa ở thủ đô Tirana. Đức Thánh Cha sẽ có một bài giảng và sẽ kết thúc thánh lễ với kinh Truyền Tin Chúa Nhật."

Cha Lombardi cũng cho biết, trong Thánh Lễ, bài đọc thứ hai sẽ có ý nghĩa đặc biệt với những người Albania vì trong bài đọc này Thánh Phaolô kể lại chuyến thăm Illyria, một khu vực thuộc Albania.

Ngài cho biết:

"Illyria là chính khu vực nơi quốc gia Albania được hình thành, sau khi thành phố Dalmatia được dựng lên ở Crotia. Vì vậy, đối với những người Albania, văn bản này là một chứng tá hùng hồn cho một thực tế là truyền thống Kitô giáo của họ đã có từ thời các Thánh Tông Đồ. Và thật chính đáng khi họ xem Thánh Phaolô là vị rao giảng Tin Mừng đầu tiên ở đất nước của họ. "

Buổi chiều, Đức Thánh Cha sẽ gặp gỡ các nhà lãnh đạo từ 6 tôn giáo trong nước bao gồm Hồi giáo, Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành, Do Thái và Bektashi, một chi phái huynh đệ Hồi giáo Suffi.

Buổi tối, Đức Thánh Cha sẽ có buổi kinh chiều tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô mới được xây dựng với các linh mục, tu sĩ, chủng sinh và các phong trào giáo dân. Cha Lombardi cho biết, trong dịp này các nạn nhân của các cuộc đàn áp tôn giáo đã xảy ra trong những năm 1940 sẽ đưa ra những chứng tá của họ.

"Những chứng từ sẽ bao gồm chứng tá của Đức Tổng Giám mục Tirana, và của hai nhân chứng rất quan trọng. Nhân chứng thứ nhất là một linh mục 80 tuổi và nhân chứng thứ hai là một nữ tu 80 tuổi. Họ là những nhân chứng sống về thời gian Giáo Hội chịu bách hại nặng nề tại quốc gia này"

Đức Giáo Hoàng sau đó sẽ ghé thăm Trung tâm Betania, một tổ chức chăm sóc trẻ em bị bỏ rơi. Từ đó, ngài sẽ tới sân bay và đến Rôma vào 21:30.

2. 253 vị tham gia Thượng Hội Đồng Giám Mục về gia đình

Hôm 9 tháng 9, Văn phòng Tổng Thư Ký Thượng Hội Đồng Giám Mục đã công bố danh sách 253 người sẽ tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới khóa đặc biệt thứ 3, từ ngày 5 đến 19-10 tới đây tại Vatican.

Chủ đề khóa họp là “Những thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh loan báo Tin Mừng”, với mục đích ”đề nghị cho thế giới ngày nay vẻ đẹp và các giá trị của gia đình, xuất phát từ sự loan báo của Chúa Giêsu Kitô đánh tan sợ hãi và nâng đỡ niềm hy vọng” (Đức Hồng Y Lorenzo Baldisseri).

Trong số 253 tham dự viên đến từ 5 châu, có 13 thủ lãnh các Giáo Hội Công Giáo Đông phương tự quản, 114 vị Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục, 25 vị Tổng trưởng hoặc Chủ tịch các Cơ quan trung ương Tòa Thánh, 9 thành viên Hội đồng Thượng Hội Đồng Giám Mục, tiếp đến là Đức Hồng Y Tổng thư ký Baldisseri và Đức Cha Phó Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục, 3 Bề trên Tổng quyền do Hiệp hội các Bề trên Tổng quyền dòng nam bầu lên (Bề trên Tổng Quyền dòng Tên, dòng Capuchino và dòng thanh Giuse (CSI), ngoài ra có 26 nghị phụ do Đức Thánh Cha bổ nhiệm.

Các tham dự viên khác gồm 8 đại biểu của các Giáo Hội Kitô anh em, 38 dự thính viên trong số này có 13 đôi vợ chồng. Thêm vào đó có 16 chuyên gia.

Người Việt Nam duy nhất tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới sắp tới là Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Tổng Giám Mục Sàigòn, trong tư cách là Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Trong số 26 nghị phụ do Đức Thánh Cha bổ nhiệm, có Đức Hồng Y Angelo Sodano, niên trưởng Hồng Y đoàn, Đức Hồng Y Walter Kasper, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, Đức Hồng Y Gioan Thang Hán, Giám Mục Hong Kong. Có 3 vị là linh mục, đứng đầu là Cha Francois-Xavier Dumortier SJ, Viện trưởng Giáo hoàng Đại học Gregoriana, Cha Antonio Spadaro SJ, Giám đốc tạp chí La Civiltà Cattolica, và Cha Manuel Jesús Arroba Conda, CMF, giáo sư giáo luật Đại Học Giáo Hoàng Laterano.

Trong số các tham dự viên có 191 nghị phụ có quyền phát biểu và bỏ phiếu.

Đức Thánh Cha là Chủ tịch của Thượng Hội Đồng Giám Mục và có 3 Hồng Y Chủ tịch thừa ủy: Đức Hồng Y André Vingt-Trois, Tổng Giám Mục Paris (Pháp), Đức Hồng Y Luis Tagle, Tổng Giám Mục Manila (Philippines) và Đức Hồng Y Raymundo Damasceno Assis, Tổng Giám Mục Aparecida (Brazil).

Công nghị ngoại thường của các Giám Mục thế giới sắp tới chỉ kéo dài 2 tuần lễ nhắm thu thập các dữ kiện và ý kiến, sau đó vào tháng 10 năm 2015, sẽ có Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới thường kỳ, nhắm đưa ra những đề nghị cụ thể cho việc mục vụ gia đình trong bối cảnh loan báo Tin Mừng ngày nay.

3. Các quan chức thành phố Oklahoma quyết tâm tiến hành cho kỳ được Lễ Đen bất chấp sự phản đối của đông đảo dân chúng

Hơn 85,000 người đã ký vào một bản kiến nghị trực tuyến kêu gọi các quan chức thành phố Oklahoma ngăn chặn một Lễ Đen được dự kiến tổ chức ngày21 tháng 9 tới đây tại Trung tâm hành chính của thành phố.

Lễ Đen là một hình thức tôn thờ Satan, một cố gắng để đảo ngược hành động và ý nghĩa của Bí Tích Thánh Thể để châm biếm sự hy sinh của Chúa Kitô và tôn thờ Satan thông qua một nghi lễ truy hoan trụy lạc và bệnh họan.

Đức Cha Paul Stagg Coakley Tổng Giám Mục Oklahoma City nói:

“Nó công kích tất cả mọi thứ mà chúng ta cho là thiêng liêng và mang lại ơn cứu chuộc; và đưa ra những mối nguy hiểm tinh thần cho mọi người.”

Ngài đã nhiều lần thỉnh cầu chính quyền thành phố đừng lấy tiền đóng thuế của dân để tổ chức một hành động báng bổ tôn giáo như thế, tuy nhiên bất chấp ý nguyện chính đáng của ngài và đông đảo những người ký tên trong kiến nghị, các quan chức tại thành phố Oklahoma vẫn quyết tâm tiến hành cho kỳ được Lễ Đen này.

Trong lời tuyên bố đưa ra đầu tháng này, ngài nói:

“Tôi xin anh chị em tín hữu Công Giáo trong toàn tổng giáo phận chống lại thái độ báng bổ này qua lời cầu nguyện và ăn chay.”

Chiều ngày 21 tháng 8, một luật sư đại diện cho Tổng Giáo phận Thành phố Oklahoma đã công bố chiến thắng trong một vụ tổng giáo phận kiện nhóm thờ Satan này đã ăn cắp Mình Thánh Chúa để thực hiện Lễ Đen.

Luật sư Michael Crispino thông báo rằng, những kẻ cầm đầu một nhóm Satanist đã phải đồng ý trả lại những Mình Thánh Chúa đã được thánh hiến cho Đức Tổng Giám Mục Paul Coakley. Trong vụ kiện này, các luật sư đại diện cho tổng giáo phận đã lập luận rằng Mình Thánh Chúa đã được thánh hiến thuộc về Giáo Hội, và do đó các nhóm Satanist đang tàng trữ tài sản bị đánh cắp.

Giờ đây, những kẻ tổ chức Lễ Đen nói rằng họ sẽ không sử dụng một Mình Thánh Chúa được thánh hiến, và buổi lễ sẽ không có một số nghi lễ khiêu dâm có thể vi phạm luật pháp địa phương.

4. Cuộc họp lần thứ Sáu của các vị Hồng Y cố vấn cho Đức Thánh Cha

Hôm thứ Hai 15 tháng 9, Hội đồng các Hồng Y giúp Đức Thánh Cha Phanxicô trong việc cai quản Giáo Hội hoàn vũ và trong việc cải cách Giáo triều Rôma, đã bắt đầu ba ngày họp tại Rôma. Đây là cuộc họp lần thứ 6 của Hội đồng.

Cha Federico Lombardi, giám đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh cho biết Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ sung thêm Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh là thành viên thứ 9 của Hội đồng. Trước đây, Đức Hồng Y Parolin cũng đã thường xuyên tham gia các cuộc họp của Hội đồng.

Đức Hồng Y George Pell, tổng trưởng Bộ Kinh Tế, là một thành viên trong Hội Đồng cho biết:

"Kỳ họp này nhắm vào việc cải cách Giáo triều. Ngoài ra, không có gì khác."

Kể từ tháng Hai, vừa qua Đức Hồng Y đã đảm trách chức vụ Tổng Trưởng kinh tế, với trọng trách giám sát mọi chi tiêu của Tòa Thánh.

Hiện nay, ngài đang lên kế hoạch về một ngân sách hợp lý cho tất cả các cơ quan của Vatican.

Đức Hồng Y nói:

"Kế hoạch còn phải được Hội đồng kinh tế thông qua. Chúng tôi hy vọng kế hoạch này sẽ được thực hiện vào cuối năm nay, nhưng có thể phải đợi đến đầu năm tới."

Chức vụ Tổng Trưởng kinh tế là một trong những cải cách quan trọng đã được thực hiện trong năm ngoái, khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô thành lập Hội đồng Hồng Y Đoàn.

5. Đức Thánh Cha đề cao tầm quan trọng của khoa chú giải Kinh Thánh

Đức Thánh Cha đề cao khoa chú giải Kinh Thánh và kêu gọi các nhà chú giải làm tất cả những gì có thể để lãnh hội rõ ràng ý nghĩa của Sách Thánh.

Trong buổi tiếp kiến sáng ngày 12 tháng 9 dành cho các tham dự viên Tuần lễ Kinh Thánh toàn quốc Italia lần thứ 43 tại Roma, Đức Thánh Cha nói: “Khoa chú giải Kinh Thánh, trong Giáo Hội và trên thế giới, chu toàn một công tác không thể thiếu được. Thật là một ảo tưởng và tỏ ra thiếu tôn trọng đối với Kinh Thánh được linh hứng khi bỏ qua khoa chú giải... Sự tôn trọng đích thực đối với Kinh Thánh đòi phải thực hiện tất cả những cố gắng cần thiết để có thể nắm bắt rõ ràng ý nghĩa của Kinh Thánh. Dĩ nhiên không phải mọi Kitô hữu đều có thể đích thân nghiên cứu các văn bản Kinh Thánh. Nghĩa vụ này được ủy thác cho các nhà chú giải, các vị hữu trách trong lãnh vực này để mưu ích cho tất cả mọi người” (Giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội, 15-4-1993, Kết luận).

Đức Thánh Cha cũng khẳng định rằng:

“Khoa chú giải Kinh Thánh Công Giáo không phải chỉ để ý đến các khía cạnh phàm nhân của các văn bản Kinh Thánh mà thôi. Khoa này cần giúp dân Kitô giáo nhận thức một cách rõ ràng hơn Lời Chúa trong các bản văn ấy, để hiểu rõ hơn, hầu sống trọn vẹn trong tình hiệp thông với Thiên Chúa. Để được như vậy, nhà chú giải cần biết nhận thức Lời Chúa trong các bản văn, và điều này chỉ có thể được nếu nhà chú giải có đời sống thiêng liêng nhiệt thành, năng đối thoại với Chúa; chẳng vậy việc nghiên cứu chú giải Kinh Thánh sẽ không đầy đủ, và đánh mất mục tiêu chủ yếu của mình”.

Tuần lễ Kinh Thánh toàn quốc Italia năm nay đã tiến hành từ ngày 8 đến 12 tháng 9 với chủ đề “Ai có thể kể lại những công trình quyền năng của Chúa?”

6. Đức Thánh Cha tiếp kiến gần 50 Giám Mục Congo

Đức Thánh Cha khuyến khích các Giám Mục Cộng hòa dân chủ Congo đào sâu việc huấn luyện tín hữu và tăng cường giáo dục để chống bạo lực.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 12 tháng 9, dành cho gần 50 Giám Mục thuộc 47 giáo phận tại Congo nhân dịp các vị về Roma hành hương viếng mộ hai thánh Tông Đồ và thăm Tòa Thánh.

Ngài bày tỏ vui mừng vì các cộng đồng Kitô tại Congo đang phát triển nhưng đồng thời cũng nhắc nhở rằng: “Như anh em biết, đối với Giáo Hội, điều cốt yếu không phải là vấn đề số lượng, nhưng là sự gắn bó hoàn toàn không chút dè dặt với Thiên Chúa được mạc khải trong Chúa Giêsu Kitô. Chất lượng niềm tin nơi Chúa Kitô, Đấng đã chết và sống lại, sự hiệp thông thân mật với Chúa, chính là nền tảng sự vững chắc của Giáo Hội. Vì thế, điều quan trọng sinh tử là rao giảng Tin Mừng theo chiều sâu. Lòng trung thành với Tin Mừng, Truyền Thống và Giáo Huấn của Hội Thánh chính là những điểm tham chiếu vững chắc bảo đảm sự tinh tuyền của nguồn suối mà anh em đang dẫn đưa Dân Chúa đến” (Lumen Fidei, 36).

Đức Thánh Cha ghi nhận Giáo Hội tại Congo có rất nhiều người trẻ, và ngài tỏ ra nhạy cảm đối với tình cảnh khó khăn của người trẻ. Ngài nói: “Tôi biết anh em chia sẻ những cơ cực, vui mừng và hy vọng của người trẻ. Tôi rất kinh hoàng khi nghĩ đến các trẻ em và người trẻ bị cưỡng bách gia nhập các lực lượng dân quân và bị bó buộc phải giết đồng bào của mình! Vì thế, tôi khuyến khích anh em tăng cường việc mục vụ cho người trẻ... Phương thế hữu hiệu nhất để thắng bạo lực, vượt thắng những chênh lệch và chia rẽ bộ tộc, chính là giúp người trẻ có óc phê bình và đề nghị với họ một tiến trình trưởng thành trong các giá trị Tin Mừng (Xc Evangelii gaudium, 64). Cũng cần tăng cường việc mục vụ trong các đại học cũng như trong các trường Công Giáo và công lập”.

Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha cũng nhắc đến sự băng hoại gia đình ở Congo do chiến tranh và nghèo đói gây ra. Ngài nói: “Điều không thể thiếu được, đó là đề cao giá trị và khuyến khích tất cả các sáng kiến nhắm củng cố gia đình, là nguồn mạch mọi tình huynh đệ, là nền tảng và là con đường đầu tiên dẫn đến hòa bình” (Sứ điệp Hòa bình thế giới, 2014, 1).

Đức Thánh Cha cũng nói rằng: “Anh em thân mến trong hàng Giám Mục, tôi mời gọi anh em không ngừng hoạt động để thiết lập một nền hòa bình lâu bền và công chính, qua một nền mục vụ đối thoại và hòa giải giữa các thành phần khác nhau trong xã hội, đồng thời hỗ trợ tiến trình giải giáp, và cổ võ sự cộng tác hữu hiệp với các tôn giáo khác”.

Sau cùng, Đức Thánh Cha bày tỏ hy vọng các Giám Mục Congo sẽ tiếp tục hoạt động để nhạy cảm hóa chính quyền về việc kết thúc các cuộc thương thảo để ký một hiệp định với Tòa Thánh.

Trong số gần 70 triệu dân tại Cộng hòa dân chủ Congo đa số là tín hữu Kitô, trong đó có hơn 52% là tín hữu Công Giáo. Các tín hữu Kitô khác chiếm 30% và có 10% theo Hồi giáo, 10% theo các tôn giáo cổ truyền của Phi châu.

7. Đức Thánh Cha phê bình thái độ “sống chết mặc bay” trước thảm cảnh chiến tranh

Sáng 13 tháng 9, Đức Thánh Cha Phanxicô tái lên án sự điên rồ của chiến tranh; sự tham lam tiền bạc, bất bao dung đã dẫn đến chiến tranh.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi viếng thăm và cử hành thánh lễ lúc gần 10 giờ sáng tại nghĩa trang quân đội Redipuglia nhân dịp kỷ niệm 100 năm thế chiến thứ I bùng nổ.

Đây là nghĩa trang quân đội lớn nhất ở Italia, ở mạn đông bắc giáp giới với Cộng hòa Slovenia và là nơi có mộ của hơn 100 ngàn binh sĩ Italia.

Đức Thánh Cha đã đáp máy bay từ Roma lúc 8 giờ sáng và khi đến nơi, ngài viếng thăm trước tiên nghĩa trang Áo Hung nơi có mộ của gần 14,500 binh sĩ tử trận thuộc nước Áo, Hungari và nhiều nước khác. Ngài cầu nguyện và đặt vòng hoa tưởng niệm. Tiếp đến, Đức Thánh Cha tới đài tưởng niệm và nghĩa trang Redipuglia để cử hành thánh lễ.

Đồng tế với Đức Thánh Cha có gần 100 Giám Mục Italia và các nước khác, cùng với một số linh mục tuyên úy quân đội. Trong số hàng chục ngàn người hiện diện trước lễ đài dưới trời mưa, có các giới chức chính quyền và quân đội Italia và nước ngoài, và các tín hữu.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói:

“Sau khi chiêm ngắm vẻ đẹp cảnh trí toàn vùng này, nơi mà những người nam nữ làm việc để nuôi dưỡng gia đình, nơi các trẻ em chơi đùa và người già mơ ước.. khi ở nơi này, tôi chỉ tìm được lời này để nói: chiến tranh là một sự điên rồ.

Trong khi Thiên Chúa làm cho công trình sáng tạo của ngài tiến triển, và loài người chúng ta được mời gọi cộng tác vào công trình của Chúa, thì chiến tranh tàn phá. Nó tàn phá cả điều đẹp nhất mà Thiên Chúa đã tạo dựng là con người. Chiến tranh đảo lộn tất cả, kể cả liên hệ giữa anh chị em với nhau. Chiến tranh là điên rồ, kế hoạch phát triển của nó là tàn phá: nó muốn phát triển bằng cách tàn phá!

Lòng tham lam, bất bao dung, ham hố quyền lực.. đó là những động lực thúc đẩy đi tới quyết định chiến tranh, và những động lực ấy thường được biện minh bằng một ý thức hệ; nhưng trước tiên có một sự đam mê, một động lực sai trái. Ý thức hệ là một biện minh, và khi không có ý thức hệ, thì có câu trả lời của Cain: “Có liên hệ gì tới tôi đây?”, ”Tôi đâu có phải là người canh giữ em tôi?” (St 4,9). Chiến tranh chẳng nể ai một ai: người già, trẻ em, các bà mẹ, người cha... Có hệ gì tới tôi đâu?”

Trên cổng vào nghĩa trang này, phất phới khẩu hiệu chế nhạo của chiến tranh ‘Có hệ gì tới tôi đâu?’ Tất cả những người có di hài đang an nghỉ tại đây, đã có từng có những dự phóng, những ước mơ.. nhưng cuộc sống của họ đã bị đốn ngã. Nhân loại nói: “Có hệ gì tới tôi đâu?”

Cả ngày nay, sau sự thất bại của một cuộc thế chiến khác, có lẽ người ta có thể nói về một cuộc chiến thứ ba đang được chiến đấu “từng mảnh”, với những tội ác, những cuộc tàn sát, những cuộc tàn phá...

Nói đúng ra, trang đầu tiên của các báo phải có tựa đề “Có hệ gì tới tôi đâu?”. Cain nói: ”Tôi có phải là người canh giữ em tôi đâu?”.

“Thái độ ấy hoàn toàn trái ngược thái độ mà Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta trong Phúc Âm. Chúng ta đã nghe: Chúa ở trong người anh em bé nhỏ nhất: Ngài là Vua, là Thẩm Phán xét xử thế gian, là người đói, khát, là ngoại kiều, người bệnh, là tù nhân... Ai săn sóc người anh em thì được vào trong niềm vui của Chúa; trái lại ai không làm như vậy, người nào bỏ sót và nói “Có hệ gì tới tôi đâu?”, thì phải ở ngoài.

“Ở đây có bao nhiêu nạn nhân. Hôm nay chúng ta tưởng niệm họ. Khóc thương và đau lòng. Từ nơi đây, chúng ta tưởng niệm tất cả các nạn nhân của mọi cuộc chiến tranh.

“Ngày nay cũng có bao nhiêu nạn nhân.. làm sao điều này có thể xảy ra? Nó có thể xảy ra được vì cả ngày nay, ở hậu trường, có những lợi lộc, có những kế hoặc chính trị địa lý, có lòng ham hố tiền bạc và quyền hành, và có công nghệ võ khí, dường như là rất quan trọng!

“Và những kẻ đề ra những kế hoạch kinh hoàng ấy, những kẻ xách động các cuộc xung đột, cũng như các chủ hãng chế võ khí, đã ghi vào tâm hồn họ câu ”Có hệ gì tới tôi đâu?”

Và chính những người khôn ngoan nhận ra các lỗi lầm, cảm thấy đau khổ, thống hối, xin tha thứ và khóc lóc.

Với câu “Có hệ gì tới tôi đâu?” mà những doanh nhân chiến tranh đã ghi trong lòng, có lẽ họ kiếm được rất nhiều tiền, nhưng con tim hư hỏng của họ đã mất khả năng khóc. Câu “Có hệ gì tới tôi đâu?” làm cho họ không khóc được. Cain không khóc. Bóng đen của Cain vẫn còn che phủ chúng ta ngày nay, tại nghĩa trang này. Chúng ta thấy nó ở đây. Ta thấy trong lịch sự từ năm 1914 đến ngày nay. Ta cũng thấy trong những ngày này.

Và Đức Thánh Cha kết luận rằng:

“Với tâm hồn của người con, người anh, người cha, tôi cầu xin cho tất cả anh chị em, và cho tất cả chúng ta ơn hoán cải tâm hồn: đi từ thái độ “Có hệ gì tới tôi đâu?”, tới thái độ khóc lóc. Khóc cho tất cả những người đã ngã gục vì “cuộc thảm sát vô ích”, khóc cho tất cả những nạn nhân của chiến tranh điên rồ, trong mọi thời đại. Nhân loại đang cần khóc lóc, và đây là giờ để khóc.”

Cuối thánh lễ, Bà Bộ trưởng quốc phòng Italia, và các vị tư lệnh quân đội, đã trao tặng Đức Thánh Cha một bàn thờ “dã chiến” được một LM tuyên úy dùng để dâng thánh lễ trong thế chiến thứ I. Ngoài ra vị Tổng tham mưu trưởng quân đội Italia đã tặng Đức Thánh Cha bản sao giấy đăng ký của Ông nội của ngài, Gioan Bergoglio, một trong 31 ngàn sĩ quan của Italia đã chiến đấu trong thế chiến thứ I.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã trao cho các Giám Mục hiện diện mỗi vị một cái đèn và dầu từ miền Assisi như biểu tượng ánh sáng hòa bình. Đèn do Tu viện Phanxicô ở Assisi và dầu do Hiệp hội cha Luigi Ciotti tặng để thắp sáng trong các buổi lễ tượng niệm thế chiến thứ I cử hành ở các địa phương.

Sau thánh lễ, Đức Thánh Cha đã đáp máy bay trở về Roma vào lúc gần một giờ trưa cùng ngày.

8. Đức Thánh Cha chủ sự lễ cưới cho 20 đôi hôn phối

Sáng Chúa Nhật 14 tháng 9, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trọng thể tại Đền thờ Thánh Phêrô và làm phép cưới cho 20 đôi hôn phối thuộc giáo phận Rôma.

Đây là lần đầu tiên ngài cử hành lễ cưới kể từ khi được bầu làm Giáo Hoàng hồi tháng Ba năm ngoái. Biến cố này diễn ra 3 tuần trước khi khai mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới khóa đặc biệt về gia đình sẽ tiến hành tại Roma từ ngày 5 đến 19 tháng 10 tới đây.

Đồng tế với Đức Thánh Cha có Đức Hồng Y Giám quản Agostino Vallini, và Đức Tổng Giám Mục Filippo Iannone, dòng Camêlô, Phó Giám quản của giáo phận Roma, cùng với 40 linh mục quen biết với các đôi hôn phối.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã dựa vào bài Phúc Âm Lễ Suy Tôn Thánh Giá nói về dân Chúa trong sa mạc vì nổi loạn nên đã bị con rắn đồng cắn, và Chúa ban thuốc chữa là con rắn đồng, ai nhìn lên con rắn ấy sẽ được chữa lành. Ngài mời gọi các tín hữu, đặc biệt là các đôi vợ chồng hãy tín thác nơi lòng từ bi Chúa giữa những khó khăn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình.

Trong bài giảng Đức Thánh Cha nói:

“Bài đọc thứ I nói với chúng ta về hành trình của dân trong sa mạc. Chúng ta hãy nghĩ đến đoàn dân ấy tiến bước dưới sự hướng dẫn của Môisê; nhất là họ là những gia đình: cha, mẹ, con cái, ông bà nội ngoại, những người nam nữ ở mọi lứa tuổi, bao nhiêu trẻ em, với những người già đầy cơ cực.. Dân tộc này làm cho chúng ta nghĩ đến Giáo Hội đang lữ hành trong sa mạc thế giới ngày nay, Dân Thiên Chúa, gồm phần lớn là các gia đình lữ hành trên các nẻo đường cuộc sống, trong lịch sử mỗi ngày.. sức mạnh khôn lường của tình người chứa trong mỗi gia đình: sự giúp đỡ lẫn nhau, tháp tùng giáo dục nhau, những quan hệ gia tăng cùng với sự tăng trưởng của con người, chia sẻ vui mừng và những khó khăn.. Các gia đình là nơi đầu tiên trong đó chúng ta được hình thành như những con người và đồng thời là “những viên gạch” để xây dựng xã hội.

Chúng ta hãy trở lại trình thuật Kinh Thánh. Đến một lúc “dân không chịu nổi cuộc du hành nữa” (Ds 21,4). Họ mệt mỏi, thiếu nước và chỉ ăn “manna”, một lương thực lạ lùng, được Thiên Chúa ban. Bấy giờ họ than trách và phản đối chống Thiên Chúa và chống Môisê: “Tại sao các ông đưa chúng tôi đi?..” (Xc Ds 21,5). Có cám dỗ muốn trở lại đàng sau, từ bỏ hành trình.

Ta nghĩ đến các đôi vợ chồng ‘không chịu nổi cuộc hành trình’ của đời sống hôn nhân và gia đình. Sự vất vả của hành trình trở thành sự mệt mỏi nội tâm; họ không còn niềm vui hôn nhân, không kín múc nước từ nguồn mạch bí tích nữa. Đời sống thường nhật trở thành nặng nề, ‘buồn nôn’.

Kinh Thánh kể, trong lúc lạc hướng ấy, các con rắn độc bò tới và cắn dân chúng, và bao nhiêu người chết. Sự kiện này làm cho dân chúng hối hận, họ xin lỗi ông Môisê và xin ông cầu xin Chúa để các con rắn bỏ đi. Ông Môisê xin Chúa và Ngài ban cho thuốc chữa: một con rắn bằng đồng treo trên cột; bất kỳ ai nhìn con rắn ấy, thì được khỏi độc dược chết chóc của các con rắn.

Biểu tượng này có nghĩa là gì? Thiên Chúa không loại trừ các con rắn, nhưng ngài tặng “thuốc giải độc”: qua con rắn đồng do Môisê đúc và treo lên, Thiên Chúa thông truyền sức mạnh chữa lành, là lòng từ bi của Ngài, mạnh mẽ hơn chất độc của kẻ cám dỗ.

Như chúng ta đã nghe trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đồng hóa với biểu tượng ấy: Thực vậy, Chúa Cha, vì yêu thương, đã ban Đức Giêsu là Con duy nhất của Ngài cho loài người, để họ được sống (Xc Ga 3,13-17); và tình yêu bao la của Chúa Cha thúc đẩy Chúa Con trở thành người, trở nên người tôi tớ, chết cho chúng ta và chết trên một cây thập giá; vì thế, Chúa Cha đã cho người sống lại và ban cho Người quyền làm chủ trên toàn thể vũ trụ. Như Thánh Ca trong thư của thánh Phaolô gửi tín hữu thành Philiphê diễn tả (2,6-11). Ai tín thác nơi Chúa Giêsu chịu đóng đanh thì nhận được lòng từ bi của Thiên Chúa chữa lành khỏi nọc độc chết chóc của tội lỗi.

Thuốc chữa mà Thiên Chúa ban cho dân Ngài cũng đặc biệt có giá trị đối với các đôi vợ chồng “không chịu nổi hành trình nữa” và bị tấn công vì những cám dỗ nản chí, bất trung, thoái lui và từ bỏ.. Thiên Chúa là Cha cũng ban cho họ Chúa Giêsu Con của Ngài, không phải để lên án họ, để để cứu thoát họ: nếu họ tín thác nơi Ngài, Ngài chữa lành họ bằng tình yêu thương bừ bi xuất phát từ Thập Giá của Ngài, bằng sức mạnh của ơn thánh tái sinh và đưa họ trở lại hành trình đời sống hôn nhân và gia đình.

Tình yêu Chúa Giêsu, Đấng đã chúc lành và thánh hóa sự kết hiệp vợ chồng, có thể duy trì và canh tân tình yêu của họ, khi tình yêu ấy - về mặt con người- bị mất đi, bị rách nát, bị khô cạn. Tình Yêu của Chúa Kitô có thể trả lại cho đôi vợ chống niềm vui được đồng hành, vì hôn nhân là sự đồng hành của một người nam và một người nữ, trong đó người nam có nghĩa vụ giúp vợ mình ngày càng trở thành một người nữ và người nữ có nhiệm vụ giúp chồng mình ngày càng trở thành một người nam. Đó là nghĩa vụ của anh chị em đối với nhau. “Anh yêu em vì thế anh làm cho em trở nên người nữ hoàn hảo hơn - Em yêu anh, và vì thế em làm cho anh thành người nam hoàn hảo hơn”. Đó là sự hỗ tương giữa những khác biệt. Đó không phải là một cuộc hành trình xuôi chảy, không có xung đột, không phải thế, chẳng vậy thì chẳng phải là con người. Đó là một cuộc du hành cam go, nhiều khi khó khăn, nhiều khi xung đột, nhưng cuộc sống là như thế! Và giữa nền thần học này mà Lời Chúa ban cho chúng ta về dân lữ hành, và cả về các gia đình đang lữ hành, về các đôi vợ chồng đang tiến bước, tôi có một lời khuyên nhỏ. Các đôi vợ chồng cãi nhau là chuyện bình thường. Thường vẫn xảy ra như thế. Nhưng tôi khuyên anh chị em: đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không làm hòa với nhau. Không bao giờ. Chỉ cần một cử chỉ nhỏ, và thế là đôi vợ chồng tiếp tục tiến bước. Hôn nhân là biểu tượng đời sống, đời sống thực, chứ không phải là một chuyện tưởng tượng! Đó là bí tích tình yêu của Chúa Kitô và của Giáo Hội, một tình yêu tìm được nơi Thánh Giá sự kiểm chứng và bảo đảm.

Tôi cầu chúc tất cả anh chị em một cuộc hành trình thật đẹp: một hành trình phong phú; ước gì tình yêu tăng trưởng. Tôi cầu chúc anh chị em được hạnh phúc. Sẽ có những thánh giá, nhưng Chúa luôn ở đó để giúp chúng ta tiến bước. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em!

Sau bài giảng là nghi thức hôn phối. Đức Thánh Cha lần lượt hỏi các đôi kết hôn có ý thức và tự do thành hôn hay không, có sẵn sàng yêu thương và tôn trọng nhau trọn đời không, có sẵn sàng đón nhận con cái Chúa ban và giáo dục chúng theo luật của Chúa Kitô và Giáo Hội hay không. Sau khi các đôi kết hôn khẳng định ý chí như thế, Đức Thánh Cha mời gọi họ biểu lộ sự đồng thuận trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội. Ngài hỏi từng cặp xem họ có đón nhận người bạn đường của mình, luôn chung thủy, trong lúc an vui cũng như lúc đau khổ, khi khỏe mạnh cũng như lúc bệnh tật, yêu thương và tôn trọng người phối ngẫu của mình mọi ngày trong cuộc sống hay không?

Sau đó, Đức Thánh Cha đã làm phép nhẫn cưới để 20 cặp tân hôn lần lượt trao nhẫn cho nhau theo công thức của nghi lễ hôn phối, rồi Ngài đọc lời nguyện xin Thiên Chúa đổ tràn hồng ân Thánh Linh, nâng đỡ các đôi tân hôn và chúc lành cho họ.

Thánh lễ được tiếp nối với kinh Tin Kính và đến phần rước lễ, 60 linh mục đã trao Mình Thánh Chúa cho các tín hữu.

Buổi lễ kết thúc lúc gần 11 giờ. Sau đó lúc 12 giờ trưa, Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài để chủ sự buổi đọc kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu tụ tập tại Quảng trường Thánh Phêrô dưới bầu trời nắng thu thật đẹp..

9. Chị Maria Voce tái đắc cử chủ tịch của Phong trào Focolare

Các thành viên phong trào Focolare, thường được người Việt gọi là phong trào Tổ Ấm, đã bỏ phiếu ủng hộ sự liên tục của hàng lãnh đạo. 500 đại biểu của phong trào đang nhóm họp phiên khoáng đại tại Rôma đã quyết định ủng hộ chị Maria Voce làm chủ tịch thêm một nhiệm kỳ 6 năm nữa. Quyết định này đã được Tòa Thánh chính thức chấp thuận.

Chị Maria Voce năm nay 77 tuổi, là người Ý, quê quán tại Calabria. Năm 2008, chị đã được bầu làm người kế vị đầu tiên của chị Chiara Lubich, người sáng lập Phong trào. Giờ đây, chị sẽ lãnh đạo phong trào Focolare thêm 6 năm nữa.

Phong trào Focolare là một tổ chức giáo dân lớn nhất trong Giáo Hội Công Giáo với khoảng hơn 2 triệu thành viên, trong đó có cả những người không Công Giáo và thậm chí những người chưa theo một tôn giáo nào. Thông qua những sáng kiến và tổ chức của mình, họ thúc đẩy sự thống nhất và hiệp thông giữa con người, dưới ánh sáng sứ điệp của Chúa Giêsu.

Trong phiên khoáng đại sẽ kết thúc vào ngày 28 tháng 9 tới đây, họ sẽ xác định ưu tiên trong những năm tới. Và trước khi trở về nhà, họ sẽ gặp gỡ Đức Giáo Hoàng Phanxicô vào ngày 26 tháng 9.

10. Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ tông du đến Thổ Nhĩ Kỳ vào cuối tháng Mười Một

Trong chuyến bay trở về Rôma từ Hàn Quốc, khi nói về lịch trình bận rộn của mình, Đức Giáo Hoàng thừa nhận rằng ngài đã có một xu hướng sử dụng quá tải các nguồn năng lượng của mình. Ngài thừa nhận rằng một số bệnh nhỏ mà ngài phải chịu đựng trong suốt mùa hè có thể do kiệt sức mà gây ra, và nói: "Bây giờ tôi phải thận trọng hơn một chút ". Đức Giáo Hoàng cho biết ngài sẽ giữ một nhịp điệu làm việc ít lại vì tình trạng sức khoẻ. Tuy nhiên, trước những chuyển biến trên thế giới, Đức Thánh Cha có lẽ sẽ không thực hiện được điều đó.

Trong một diễn biến gây bất ngờ cho nhiều người, Cha Federico Lombardi, giám đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh cho biết trong cuộc họp báo hôm 12 tháng 9 rằng Đức Thánh Cha sẽ đến thăm Thổ Nhĩ Kỳ vào cuối tháng Mười Một.

Thông báo của Tòa Thánh chỉ diễn ra vài giờ sau khi tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ là ông Recep Tayyip Erdoğan chính thức mời Đức Thánh Cha đến thăm đất nước này và Đức Thánh Cha đã đồng ý ngay lập tức.

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã đến thăm Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng Mười năm 2006. Ngài đã viếng thăm Ankara, và gặp gỡ với chính quyền địa phương. Ngài cũng đã đến thăm Izmir, gần thành phố Ephesus cổ đại, để kính viếng một ngôi đền dành riêng cho Đức Trinh Nữ Maria. Người Hồi Giáo cũng đến đây để tôn kính Đức Mẹ. Sau đó, ngài đến thăm Toà Thượng Phụ Fanar ở Istanbul, của Đức Thượng phụ Đại kết Constantinople và cầu nguyện với vị Đại Giáo Trưởng của Hồi Giáo tại đền thờ Xanh của Hồi giáo.

Cũng trong cuộc họp báo trên chuyến bay trở về từ Hán Thành, Đức Thánh Cha tiết lộ rằng ngài đã nói chuyện với các trợ lý của ngài về một chuyến thân chinh đến Iraq. "Tại thời điểm này đó không phải là điều tốt nhất để thực hiện", nhưng ngài nói thêm rằng ngài để ngỏ khả năng đó và sẽ thực hiện khi đó là điều hữu ích. Vì thế, các quan sát viên cho rằng bên cạnh các địa điểm như Ankara và Istanbul, Đức Thánh Cha có thể sẽ viếng thăm người tị nạn từ Syria và Iraq ở miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Điều này gây quan ngại cho nhiều người vì Thổ Nhĩ Kỳ là cửa ngõ cho các thành phần thánh chiến từ Tây phương xâm nhập vào Iraq và Syria để tham gia chiến đấu chung với bọn khủng bố Hồi Giáo IS. Hoa Kỳ và các nước phương Tây đã nhiều lần yêu cầu Thổ Nhĩ Kỳ chặn đường tiếp tế người và các loại vũ khí cho bọn khủng bố Hồi Giáo IS ở biên giới phía Nam nhưng Thổ Nhĩ Kỳ xem ra không đủ khả năng đáp ứng được.

Cho đến nay, chỉ có một sự kiện được xác nhận là vào 30 tháng 11, Đức Thánh Cha sẽ tham dự Phụng Vụ Thánh do Đức Thượng phụ Đại kết cử hành để mừng lễ Thánh Anrê Tông Đồ. Theo một truyền thống đã có từ thời Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Mỗi năm Tòa Thượng Phụ Đại Kết Constantinople đều gởi đoàn đại biểu sang Rôma tham dự Lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô ngày 29 tháng 6. Đáp lại, Tòa Thánh cũng gởi đoàn đại biểu sang Constantinople để tham dự lễ Thánh Anrê Tông Đồ được cử hành ngày 30 tháng 11.

Chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô chắc cũng sẽ bao gồm một chuyến viếng thăm một đền thờ Hồi giáo và một cuộc họp với người Hồi giáo, để xây dựng một cầu nối giữa Công Giáo và thế giới Hồi giáo trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ chống lại chủ nghĩa cực đoan tôn giáo.

Đức Thánh Cha sẽ có một lịch trình bận rộn trong những ngày tới. Trong tháng Chín, ngài sẽ tông du lịch Albania. Trong tháng Mười, ngài sẽ tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về gia đình và trong tháng Mười một, ngài sẽ có hai lần xuất ngoại: đó là tới Strasbourg để nói chuyện trước Nghị Viện Châu Âu và sau đó là đến Thổ Nhĩ Kỳ.

11. Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ đến Strasbourg để nói chuyện trước khi Nghị viện châu Âu

Tòa Thánh đã xác nhận rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ nói chuyện trong phiên họp khoáng đại Nghị viện châu Âu ở Strasbourg, vào ngày 25 tháng 11.

Chủ tịch Nghị viện châu Âu, là ông Martin Schulz, người đã được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến vào tháng Mười năm ngoái, thông báo rằng Đức Giáo Hoàng đã chấp nhận lời mời của ông.

Chuyến thăm được mô tả là một cử chỉ đầy biểu tượng và rất quan trọng vì châu Âu ngày càng trở nên thế tục và phong trào bài tôn giáo dâng cao tại các nước phương Tây. Đức Hồng Y Reinhard Marx, là Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục của Cộng đồng châu Âu, hoan nghênh sáng kiến này. Ngài nói đó sẽ là một cách tốt để Quốc hội châu Âu nhớ lại nguồn cội Kitô của mình.

Tháng Mười Một sẽ là một tháng bận rộn cho Đức Giáo Hoàng vì sau khi nói chuyện trước Nghị Viện Châu Âu, ngài sẽ tông du đến Thổ Nhĩ Kỳ vài ngày sau đó.

Ngày 8 tháng 10 năm 1988, Đức Gioan Phaolô II đã trở thành vị Giáo hoàng đầu tiên lên tiếng trước Nghị viện châu Âu. Vào thời điểm đó, bức tường Berlin vẫn còn chia cách nước Đức và chủ nghĩa cộng sản vẫn thống trị ở Đông Âu. Vì thế trong bài phát biểu, Đức Thánh Cha nhắc nhở Quốc hội, rằng châu Âu nên học cách hít thở với hai lá phổi, trong cùng một cơ thể.

Trong một tình cờ khá lạ lùng, người đã la hét phá đám bài nói chuyện của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 8 tháng 10 năm 1988 đã đột ngột qua đời chỉ vài giờ sau khi Tòa Thánh loan báo về cuộc viếng thăm Strasbourg của Đức Thánh Cha Phanxicô.

Ian Paisley (06/04/1926 – 12/09/2014), người Ái Nhĩ Lan thuộc Giáo Hội Tin Lành Trưởng Lão đã la hét dữ dội và hô những khẩu hiệu chống Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khi ngài bắt đầu bài nói chuyện của mình.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bình tĩnh chờ đợi trong khi các nghị viên khác lôi Ian Paisley ra ngoài. Nghị viện châu Âu đã vỗ tay vang dội hoan hô cử chỉ từ tốn của ngài.

Ian Paisley đã theo đuổi một lập trường chống Công Giáo rất cực đoan. Ông qua đời tại Belfast ngày 12 tháng 9 vừa qua.

12. Đức Thánh Cha Phanxicô kỷ niệm 100 năm thế chiến thứ nhất

Sáng thứ Bẩy 13 tháng 9 Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong tại Redipuglia và cử hành thánh lễ tại nghĩa trang các tử sĩ nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ.

Redipuglia là nghĩa trang quân đội lớn nhất tại Italia với mộ của hơn 100 ngàn tử sĩ của Thế chiến thứ nhất, trong đó có 30 ngàn chiến sĩ vô danh. Nghĩa trang này chỉ cách biên giới nước Slovenia vài cây số, và được khánh thành ngày 13 tháng 9 năm 1938. Sau khi viếng thăm nghĩa trang Áo-Hung, đặt vòng hoa trước đài tưởng niệm, vào lúc 10 giờ Đức Thánh Cha chủ sự thánh lễ đồng tế tại đài tưởng niệm với các vị Giám Mục đặc trách các giáo hạt quân đội Italia và các nước cùng nhiều Giám Mục khác. Cuối thánh lễ Đức Thánh Cha đọc kinh cầu cho các binh sĩ tử trận và các nạn nhân chiến tranh. Ngài cũng trao cho mỗi Giám Mục hiện diện một ngọn đèn để thắp sáng trong các lễ tưởng niệm Đệ Nhất Thế Chiến tại các giáo phận liên hệ.

Đệ Nhất Thế Chiến đã bùng nổ ngày 28 tháng 7 năm 1914, và chấm dứt ngày 11 tháng 11 năm 1918. Các cuộc đụng độ diễn ra tai Âu châu, Trung Đông, nhiều đảo Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ, theo các phản ứng liên minh dây chuyền giữa các nước. Đã có hơn 70 triệu người bị động viên, trong số này có 60 triệu tại các nước Âu châu, và hơn 9 triệu binh sĩ ngã gục tại chiến trường, không kể khoảng 7 triệu thường dân bị thiệt mạng.

Mặt khác trong các ngày 31 tháng 8 đến mùng 2 tháng 9 vừa qua, các Giám Mục Đức và Ba Lan đã cùng cử hành các lễ nghi tưởng niệm 75 năm Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ.

Thế Chiến Thứ II bắt đầu ngày mùng 1 tháng 9 năm 1939, khi quân đội Đức Quốc Xã tấn công Ba Lan, và chiến tranh đã kéo dài 6 năm khiến cho 62 triệu người chết, trong đó có 25 triệu binh sĩ: 17 triệu người thuộc khối đồng minh và 8 triệu người thuộc khối Trục gồm Đức, Ý và Nhật Bản. Khối đồng minh có 33 triệu thường dân bị chết, trong khi khối Trục có 4 triệu thường dân thiệt mạng.

Hai thế chiến đã khiến cho gần 80 triệu người chết, hàng chục triệu người khác bị thương hay tàn phế, và bao nhiêu triệu người phải sống trong cảnh nghèo túng, đói khát, bệnh tật, khốn khổ, vì các quốc gia lâm chiến đã dốc đổ tài lực và sát tế nhân lực cho thần chiến tranh và tàn phá. Hàng trăm thành phố làng mạc đã bị bỏ bom bình địa, tan hoang. Biết bao nhiêu hy sinh, mồ hôi, máu và nước mắt của hàng bao thế kỷ xây dựng, vun trồng, với bom đạn của chiến tranh chỉ trong chớp nhoáng đã biến thành tro bụi. Nam giới bị động viên, đất đai bị bỏ hoang không người canh tác, phụ nữ và trẻ em phải nai lưng làm việc trong các hãng chế tạo khí giới hay canh tác cầm chừng không đủ thực phẩm cung cấp cho gia đình. Toàn dân phải thắt lưng buộc bụng hy sinh cho chiến tranh.

13. Tổn thất nặng nề: 2500 người Công Giáo bị Hồi Giáo Boko Haram giết chết

Thông tấn xã Công Giáo Catholic World News cho biết Đức Giám Mục Oliver Doeme của giáo phận Maidiguri, một thành phố ở đông bắc Nigeria, nói rằng bọn khủng bố Hồi Giáo Boko Haram đã giết chết hơn 2,500 người Công Giáo trong giáo phận của ngài.

Đức Cha Oliver đã phải bỏ chạy khỏi Tổng Giám Mục của ngài sau khi thành phố Maidiguri bị quân khủng bố tấn công hôm 12 tháng 9.

Đức Cha Oliver đang tạm trú tại Yola cùng với hàng ngàn người Công Giáo. Đức Cha cho biết "nhiều gia đình không biết nơi nương tựa vào đâu", và "khá nhiều cha mẹ vẫn đang tìm kiếm con em bị mất tích và những người thân yêu."

Ngài cho biết thảm họa xảy ra "vì những người lính đã bỏ ngũ chạy trốn quân khủng bố vì sợ bị giết" nên thành phố đã rời vào tình trạng hỗn loạn.

Hôm thứ Hai 15 tháng 9, quân đội Nigeria đã tái chiếm Maidiguri giết chết hàng trăm thành viên của quân khủng bố.

14. Đức Thánh Cha gặp gỡ các nhóm trẻ em bạch tạng trước buổi triều yết chung

Trước buổi triều yết chung hôm thứ Tư 10 tháng 9, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp một nhóm các trẻ em bị bệnh bạch tạng tại Đại Thính Đường Phaolô Đệ Lục. Đức Giáo Hoàng chào đón từng em một.

Sau khi chào hỏi các em, ngài cám ơn họ về chuyến viếng thăm và yêu cầu các em cầu nguyện cho ngài.

Đức Thánh Cha Phanxicô nói:

"Cha cảm ơn các con đã ghé thăm của cha. Cảm ơn các con rất nhiều. Cha yêu cầu các con cầu nguyện cho cha, xin đừng quên. Để cha có thể tiếp tục công việc của mình. Cha sẽ cầu nguyện cho tất cả anh chị em và các con."

Sau đó, Đức Thánh Cha cùng đọc kinh Kính Mừng và ban phép lành cho các em trước khi ra Quảng trường Thánh Phêrô để chủ sự buổi triều yết chung.

Tình cảnh của những em bị bệnh bạch tạng, những người thường xuyên là nạn nhân của phân biệt đối xử hoặc thậm chí là bạo lực, là một mối quan tâm hàng đầu của Đức Giáo Hoàng.

Gần đây, ngài đã thu tiếng của mình trong audiobook xã hội "Ombra Bianca" (Bóng Trắng), một sáng kiến được đưa ra để hỗ trợ những trẻ bị bệnh bạch tạng ở châu Phi.

15. Lời kêu gọi của Đức Thánh Cha tại Lampedusa được hồi âm

Hơn 1,500 người tị nạn đã được cứu sống nhờ dự án Trạm Trợ Giúp Thuyền Nhân Ngoài Khơi. Trạm Trợ Giúp này là một con thuyền mang tên 'The Phoenix' dài hơn 140 feet (42m), trên đó có hai chiếc ghe nhỏ và hai máy bay không người lái có thể khởi động trên biển, và bay suốt hơn sáu tiếng đồng hồ, với tốc độ 240km một giờ.

Dự án Trạm Trợ Giúp Thuyền Nhân Ngoài Khơi đã được đưa ra bởi một cặp vợ chồng Công Giáo sống ở Malta, với mục đích cụ thể là giải cứu những người nhập cư bị mắc cạn dọc Địa Trung Hải.

Regina Catrambone, người sáng lập dự án này cho biết

"Ý tưởng này đã ập đến khi chúng tôi đã ngồi hàng giờ trong kỳ nghỉ hè giữa Lampedusa và Tunisia. Chúng tôi phát hiện ra một chiếc phao áo khoác. Tôi và chồng tôi nhìn chằm chằm vào chiếc áo khoác này. Viên thuyền trưởng trên thuyền chúng tôi nói rằng có thể người mặc chiếc áo khoác này đã không còn nữa. "

Một thời gian ngắn sau đó, Regina và chồng là Christopher Catrambone nói rằng họ nghe những lời kêu gọi đầy xúc động của Đức Giáo Hoàng trong chuyến thăm đảo Lampedusa yêu cầu các Kitô hữu làm mọi cách có thể để cứu giúp những người tị nạn.

Regina Catrambone nói tiếp:

"Đó là một sự thúc đẩy lớn đối với chúng tôi bởi vì trong bài phát biểu của ngài nhiều lần ngài kêu gọi tất cả mọi người hãy giúp đỡ những người tị nạn bằng khả năng, và kỹ năng của mình. Điều này giống như một tiếng chuông vang lên trong trái tim chúng tôi."

Vào cuối tháng Tám vừa qua, họ quyết định thực hiện ý tưởng của mình. Cho đến nay, họ đã cứu sống được hai chiếc thuyền đầy những người nhập cư bị mắc cạn. Khi họ nhìn thấy một chiếc tàu bị nạn, các nhân viên cứu hộ và y tá sơ cứu cho họ và gọi chính quyền địa phương đến cứu giúp họ.

Riêng trong năm nay, ước tính có khoảng 100,000 người nhập cư đã đến bờ biển Ý, để vượt thoát chiến tranh, nghèo đói hay bị ngược đãi. Số lượng những người vượt biển không thành công đến nay vẫn không rõ.

16. Đức Thánh Cha gặp gỡ tổng thống Tunisia, Mohamed Moncef Marzouki

Hôm 11 tháng 9, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chào đón tổng thống nước Cộng hòa Tunisia, là ông Mohamed Moncef Marzouki, tại Điện Tông Tòa của Vatican.

Hai vị đã nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Trong cuộc họp ngắn gọn của họ, hai vị đã nói về đối thoại liên tôn, nhân quyền và tự do tôn giáo. Hai vị cũng thảo luận về vai trò của Giáo Hội trong các lĩnh vực y tế và giáo dục tại Tunisia.

Tunisia có 11 triệu dân trong đó 99% là người Hồi Giáo Sunni. Giáo Hội Công Giáo chỉ có một giáo phận là tổng giáo phận thủ đô Tunis với 20,000 tín hữu.

Tổng thống đã tặng cho Đức Giáo Hoàng một con chim bồ câu màu bạc tượng trưng cho hòa bình. Ngược lại, Đức Giáo Hoàng đã tặng cho tổng thống một huy chương triều đại Giáo Hoàng của ngài.

17. Lễ kính hai vị thánh Giáo Hoàng

Đức Thánh Cha Phanxicô đã quyết định rằng ngày 11 tháng 10 hàng năm là lễ nhớ Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII và ngày 22 tháng 10 là lễ nhớ Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong một sắc lệnh của Thánh Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích.

Sắc lệnh ký ngày 29 tháng 5, đã được công bố trong ấn bản ngày 12 tháng 9 của tờ Quan Sát Viên Rôma.

Tám mươi vị Giáo Hoàng đã được phong thánh thánh, nhưng chỉ khoảng 20 vị có lễ nhớ trong lịch Phụng Vụ.