CHÂN THIỆN MỸ MẾN CHÀO CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 5 năm 2015

Hãy biết sống làm sao để sinh hoa kết quả cho Thiên Chúa.

LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Thứ Sáu Tuần 8 TN1, Năm Lẻ

Bài đọc: Sir 44:1, 9-13; Mk 11:11-26.

1/ Bài đọc I: 1 Giờ đây, chúng ta hãy ca ngợi những vị danh nhân,
cũng là cha ông của chúng ta qua các thế hệ.
9 Có những người không còn ai nhớ nữa, họ qua đi như chẳng bao giờ có,
họ sinh ra mà như chẳng chào đời con cháu của họ cũng thế thôi!
10 Nhưng các vị sau đây là những người đạo hạnh,
công đức của các ngài không chìm vào quên lãng.
11 Dòng dõi các ngài luôn được hưởng một gia tài quý báu đó là lũ cháu đàn con.
12 Dòng dõi các ngài giữ vững các điều giao ước;
nhờ các ngài, con cháu cũng một mực trung thành.
13 Dòng dõi các ngài sẽ muôn đời tồn tại, vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ.

2/ Phúc Âm: 11 Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem và đi vào Đền Thờ. Người rảo mắt nhìn xem mọi sự, và vì giờ đã muộn, Người đi ra Bê-ta-ni-a cùng với Nhóm Mười Hai.
12 Hôm sau, khi thầy trò rời khỏi Bê-ta-ni-a, thì Đức Giê-su cảm thấy đói.
13 Trông thấy ở đàng xa có một cây vả tốt lá, Người đến xem có tìm được trái nào không. Nhưng khi lại gần, Người không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi, vì không phải là mùa vả.
14 Người lên tiếng bảo cây vả: "Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa! " Các môn đệ đã nghe Người nói thế.
15 Thầy trò đến Giê-ru-sa-lem. Đức Giê-su vào Đền Thờ, Người bắt đầu đuổi những kẻ đang mua bán trong Đền Thờ, lật bàn của những người đổi bạc và xô ghế của những kẻ bán bồ câu.
16 Người không cho ai được mang đồ vật gì đi qua Đền Thờ.
17 Người giảng dạy và nói với họ: "Nào đã chẳng có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc sao? Thế mà các người đã biến thành sào huyệt của bọn cướp! "
18 Các thượng tế và kinh sư nghe thấy vậy, thì tìm cách giết Đức Giê-su. Quả thế, họ sợ Người, vì cả đám đông đều rất ngạc nhiên về lời giảng dạy của Người.
19 Chiều đến, Đức Giê-su và các môn đệ ra khỏi thành.
20 Sáng sớm, khi đi ngang cây vả, các ngài thấy nó đã chết khô tận rễ.
21 Ông Phê-rô sực nhớ lại, liền thưa Đức Giê-su: "Kìa Thầy xem: cây vả Thầy rủa đã chết khô rồi!"
22 Đức Giê-su nói với các ông: "Anh em hãy tin vào Thiên Chúa.
23 Thầy bảo thật anh em: nếu có ai nói với núi này: “Dời chỗ đi, nhào xuống biển!,” mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý.
24 Vì thế, Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý.
25 Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em.
26 Nhưng nếu anh em không tha thứ, thì Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha lỗi cho anh em."

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy biết sống làm sao để sinh hoa kết quả cho Thiên Chúa.

Thiên Chúa tạo dựng mọi sự trong vũ trụ là cho một mục đích, chẳng có gì gọi là ngẫu nhiên mà có hay không mang một mục đích nào cả. Ví dụ, tạo dựng cây cỏ cho bò ăn; khi bò lớn, bò trở thành thịt cho con người ăn hay để cày bừa; khi con người tăng trưởng, con người trở thành hữu ích cho tha nhân phần xác, hay rao giảng Tin Mừng để đưa con người về cho Thiên Chúa. Vật nào hay người nào không sinh hoa kết quả hay không đạt được mục đích sẽ bị Thiên Chúa loại ra ngoài để lấy chỗ cho vật khác hay người khác biết sinh lợi cho Ngài.
Các bài đọc hôm nay nhằm giúp con người hiểu thấu ơn gọi và mục đích của họ trong cuộc đời. Trong bài đọc I, tác giả Sách Huấn Ca so sánh giữa hai dòng dõi: Một bên là dòng dõi vô danh, chẳng để lại gì cho hậu thế, họ qua đi như chẳng bao giờ có mặt trong cuộc đời, và con cháu họ cũng sống cuộc đời vô nghĩa như họ vậy. Một bên là dòng dõi của những người công chính, họ biết sống theo mục đích mà Thiên Chúa đã tiền định cho họ, con cháu họ cũng biết noi gương sống cuộc đời công chính và ngay lành như họ; và cứ thế dòng dõi họ sẽ tồn tại đến muôn đời.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Dòng dõi các ngài sẽ muôn đời tồn tại, vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ.

1.1/ Dòng tộc của những người vô danh: Mỗi người chúng ta đều được hưởng rất nhiều công ơn từ Thiên Chúa, quê hương, tổ tiên, cha mẹ, và những người đi trước. Bổn phận của chúng ta, sau khi đã được hưởng thụ công ơn, là phải tiếp tục cố gắng làm sao để trả những công ơn này. Vì chúng ta không có cơ hội để trả ơn trực tiếp cho Thiên Chúa, chúng ta phải trả cách gián tiếp bằng cách làm ơn cho những người đi sau, trong đó có anh em, con cái, và cháu chắt của chúng ta.
Nếu chúng ta sống vô trách nhiệm, chỉ biết nhận lãnh mà không biết trả ơn, Thiên Chúa, những người đi trước, và những người theo sau sẽ kết tội chúng ta. Con cái, cháu chắt chúng ta cũng sẽ chẳng ra gì, vì họ không được lãnh nhận điều gì tốt từ chúng ta. Tác giả Sách Huấn Ca mô tả người sống vô trách nhiệm và dòng dõi họ như sau: “Có những người không còn ai nhớ nữa, họ qua đi như chẳng bao giờ có, họ sinh ra mà như chẳng chào đời con cháu của họ cũng thế thôi!”

1.2/ Dòng tộc của các danh nhân: Nhưng nếu chúng ta biết sống đạo hạnh và trách nhiệm, công đức của các chúng ta sẽ không chìm vào quên lãng. Những gì chúng ta làm không những sinh ích lợi cho chúng ta, mà còn để lại một gia sản quí báu cho lũ cháu đàn con. Sóng trước đổ đâu, sóng sau theo đó. Nếu chúng ta biết giữ vững các điều giao ước và Lề Luật của Thiên Chúa và dạy dỗ con cháu biết làm như thế, dòng dõi của chúng ta sẽ giữ vững các điều giao ước và sống trung thành với Thiên Chúa. Vì thế, dòng dõi của chúng ta sẽ muôn đời tồn tại, và vinh quang của chúng ta sẽ chẳng phai mờ.

2/ Phúc Âm: "Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa!"

2.1/ Ý nghĩa của hai trình thuật: Trình thuật “Cây vả bị chúc dữ” chỉ được tường thuật trong Marcô và Matthew, và là một trong những trình thuật khó cắt nghĩa nhất. Lý do vì hầu hết học giả đều chú trọng đến chi tiết mà Marcô tường thuật: “vì không phải là mùa vả.” Họ đặt câu hỏi: Tại sao Chúa lại tìm quả và chúc dữ cho cây vả khi chưa tới mùa?
Trong Tin Mừng, Marcô thỉnh thoảng dùng nghệ thuật viết văn được gọi là “đặt giữa hai” (Intercalation hay sandwiching): Mục đích của tác giả khi dùng nghệ thuật này là để làm nổi bật một ý nghĩa mà cả hai trình thuật đều nhắm tới. Ví dụ: trình thuật Chúa rao giảng với uy quyền chứ không giống như các kinh sư được tiếp nối bằng phép lạ Chúa chữa người bị quỉ ám (1:21-28), để nói lên Chúa Giêsu uy quyền trong lời nói cũng như trong hành động. Trình thuật Chúa chữa con gái người trưởng hội đường được đặt trước và sau phép lạ Chúa chữa người đàn bà bị loạn huyết lâu năm (5:21-43), để nêu bật niềm tin của ông trưởng hội đường và người đàn bà bị loạn huyết. Và trình thuật sai Nhóm Mười Hai đi rao giảng được đặt trước và sau cái chết của Gioan Tẩy Giả (6:7-30) để nói lên việc các ông sẽ bị truy tố khi thi hành sứ vụ của mình.
Và hôm nay, trình thuật “Chúa thanh tẩy Đền Thờ” được đặt giữa trình thuật “Cây vả bị chúc dữ.” Điều quan trọng là phải tìm ra đâu là chủ đề chung của cả hai trình thuật. Trong trình thuật “Cây vả bị chúc dữ,” điều Chúa nói với cây vả: "Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa!" được thực hiện ngay hôm sau khi Chúa Giêsu và các môn đệ đi ngang qua cây vả. Điều gì Chúa nói sẽ thành sự, Chúa không quan tâm đến việc có đúng mùa hay không. Trong trình thuật “thanh tẩy Đền Thờ,” điều Chúa muốn nhấn mạnh: "Nào đã chẳng có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc sao? Thế mà các người đã biến thành sào huyệt của bọn cướp!"
Cây vả hay Đền Thờ có lẽ được Chúa Giêsu ví với dân thành Jerusalem. Thiên Chúa chờ đợi họ thay đổi đã biết bao năm rồi, nhưng họ đã không sinh hoa kết quả gì cả. Một sự kiện lịch sử đáng chú ý là Đền Thờ Jerusalem bị phá hủy bình địa xảy ra chỉ ít lâu sau đó (vào năm 70 AC); và từ đó đến nay mọi dân tộc trên khắp địa cầu thờ phượng Chúa, không phải ở Jerusalem; nhưng trong thần khí và sự thật.

2.2/ Đạo không phải chỉ là những lễ nghi trong Đền Thờ. Điều quan trọng nhất của đạo là niềm tin vững mạnh của người tín hữu vào Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhấn mạnh điều này với các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: nếu có ai nói với núi này: “Dời chỗ đi, nhào xuống biển!” mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý. Vì thế, Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý.”
Ngoài ra, tình yêu đối với Thiên Chúa được biểu lộ qua tình yêu dành cho tha nhân. Người dạy họ: “Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ, thì Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha lỗi cho anh em."

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Thiên Chúa đã tiền định cho mỗi người một mục đích và trao cho mỗi người một sứ vụ. Chúng ta hãy cố gắng hết sức để chu toàn sứ vụ Chúa trao phó và đạt được đích điểm Ngài đã tiền định.
- Nếu chúng ta không sinh lợi ích cho Thiên Chúa và cho tha nhân, Ngài sẽ chặt bỏ chúng ta mà vứt ra ngoài để lấy chỗ cho những người biết sinh lợi ích cho Ngài.
- Mỗi người chúng ta sống trong bậc gia đình đều được Thiên Chúa trao ban cho một số người con hay tín hữu để được huấn luyện. Chúng ta hãy chu toàn nhiệm vụ bằng cách giáo dục họ theo đường lối Thiên Chúa và chỉ đường cho họ tới với Ngài.


Đôi mắt đức tin sáng mãi



Chúa Giêsu đáp: "Được, đức tin của anh đã chữa anh". Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người. (Mc 10,52)


Lạy Chúa Giê-su, xin cho đôi mắt đức tin nơi tâm hồn con luôn sáng mãi. Amen.

Thứ Năm, ngày 28 tháng 5 năm 2015

Sự quí trọng của con mắt.

Thứ Năm Tuần 8 TN1, Năm Lẻ

Bài đọc: Sir 42:15-25; Mk 10:46-52.

1/ Bài đọc I: 15 Tôi sẽ nhắc lại những công trình của Đức Chúa,
những điều mắt thấy, tôi sẽ kể lại. Do lời Đức Chúa mà có những công trình của Người.
16 Mặt trời toả sáng nhìn xuống muôn loài,
vinh quang Đức Chúa bao phủ công trình Người sáng tạo,
17 các thánh của Đức Chúa không tài nào kể lại mọi kỳ công của Người.
Đó là những kỳ công Đức Chúa toàn năng đã thực hiện
cho vũ trụ được bền vững (trước tôn nhan) vinh hiển của Người.
18 Người dò thấu vực thẳm và cõi lòng nhân thế,
hiểu rõ toan tính của con người,
vì Đấng Tối Cao am tường tất cả và đưa mắt nhìn các dấu hiệu thời gian.
19 Người công bố dĩ vãng và tương lai
và mặc khải dấu vết của những điều bí ẩn.
20 Không một ý nghĩ nào Người không thấu suốt,
chẳng một lời nào là bí ẩn đối với Người.
21 Người khôn ngoan sắp xếp những công trình vĩ đại,
vì Người hằng có từ đời đời đến muôn muôn thuở,
không cần thêm hay bớt điều gì và cũng chẳng cần ai làm cố vấn.
22 Mọi công trình của Người kỳ diệu biết bao!
Những gì thấy được chỉ như một ánh lửa.
23 Mọi vật ấy đều sống và tồn tại muôn đời
để đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết và tất cả đều vâng phục Người.
24 Tất cả đều có đôi, cái này đối cái kia;
Người không làm gì dang dở.
25 Vật này làm tôn vẻ đẹp của vật kia,
nhìn ngắm vinh quang của Người, ai mà chán được?

2/ Phúc Âm: 46 Đức Giê-su và các môn đệ đến thành Giê-ri-khô. Khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê.
47 Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: "Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!"
48 Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: "Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!"
49 Đức Giê-su đứng lại và nói: "Gọi anh ta lại đây!" Người ta gọi anh mù và bảo: "Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!"
50 Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su.
51 Người hỏi: "Anh muốn tôi làm gì cho anh?" Anh mù đáp: "Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được."
52 Người nói: "Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!" Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự quí trọng của con mắt.

Trong năm giác quan của con người, con mắt là quan năng cao trọng hơn cả; vì chúng cung cấp cho trí khôn những ảnh niệm để suy luận. Con mắt được dùng để nhìn và để đọc. Con người có thể dùng con mắt để nhìn thấy những kỳ công của Thiên Chúa tạo dựng, hay để đọc những gì hay mà người khác viết về Ngài. Con mắt luôn đi đôi với trí khôn suy luận. Con người có thể suy luận để biết có Thiên Chúa qua tất cả những gì con người nhìn thấy hay đọc được.
Các bài đọc hôm nay tập trung trong sự quan trọng của con mắt. Trong bài đọc I, tác giả Sách Huấn Ca dùng con mắt để chiêm ngưỡng những kỳ công Thiên Chúa tạo dựng, và dùng trí khôn để suy niệm sự quan phòng của Thiên Chúa, trước khi ông có thể tường thuật lại những gì Ngài làm để cho thế hệ tương lai được biết. Trong Phúc Âm, anh mù Bartimê đã cảm nghiệm được sự đau khổ của việc mù lòa, nên khi biết Đức Kitô đi ngang qua, anh nhất định la to lên xin chữa lành, và Ngài đã cho anh nhìn thấy.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Những điều mắt thấy, tôi sẽ kể lại.

1.1/ Sự tạo dựng tuyệt vời của Thiên Chúa: Rất nhiều tác giả của Kinh Thánh đã buộc tội con người khi họ có mắt nhìn mà vẫn không tin Thiên Chúa như tác giả của Thánh Vịnh, Isaiah, Job... Thánh Phaolô cáo buộc những người không tin như sau: “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người. Do đó, họ không thể tự bào chữa được, vì tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hoá ra mê muội. Họ khoe mình khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên rồ” (Rom 1:18-22). Tác giả Sách Huấn Ca bày tỏ niềm tin tương tự: “Tôi sẽ nhắc lại những công trình của Đức Chúa, những điều mắt thấy, tôi sẽ kể lại. Do lời Đức Chúa mà có những công trình của Người.”

1.2/ Sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ cách tuyệt vời như thế, Ngài còn quan phòng mọi sự cách kỳ diệu hơn nữa. Tác giả liệt kê một số những điều quan sát thấy:
(1) Thiên Chúa biết tất cả mọi sự xảy ra trong trời đất, ngay cả những ý nghĩ sâu thẳm trong tâm hồn con người: “Người dò thấu vực thẳm và cõi lòng nhân thế, hiểu rõ toan tính của con người... Không một ý nghĩ nào Người không thấu suốt, chẳng một lời nào là bí ẩn đối với Người.”
(2) Thiên Chúa không những biết hiện tại, mà còn thấu suốt mọi dĩ vãng, tương lai: “Người công bố dĩ vãng và tương lai, và mặc khải dấu vết của những điều bí ẩn.” Vì đối với Thiên Chúa, mọi sự đều xảy ra trong hiện tại.
(3) Thiên Chúa quan phòng mọi sự cách khôn ngoan: Trong sự quan phòng, Ngài chẳng cần phải thay đổi điều chi cả, và cũng chẳng cần ai làm cố vấn cho Ngài. Thiên Chúa điều khiển mọi sự xảy ra trong vũ trụ, những gì con người có thể thấy hay hiểu và những gì con người không thể thấu hiểu. Tất cả mọi sự đều vâng phục Ngài. Tác giả cho chúng ta hai ví dụ về sự quan phòng khôn ngoan của Thiên Chúa: Thứ nhất, Thiên Chúa dựng nên các sinh vật đều có đôi để truyền sinh, để bổ túc cho nhau, và để giúp nhau tìm được niềm vui. Thứ hai, là sự hòa điệu nhịp nhàng của muôn vật trong vũ trụ: “Vật này làm tôn vẻ đẹp của vật kia, nhìn ngắm vinh quang của Người, ai mà chán được?”

2/ Phúc Âm: "Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được."

2.1/ Niềm tin vững chắc của anh mù Bartimê: Trình thuật Marcô cho ta biết những đức tính của anh.
(1) Anh biết nhu cầu của mình: Mù lòa là sống trong tăm tối, nhìn đâu cũng toàn thấy một màu đen, đi đâu cũng phải có người dắt. Còn gì khổ hơn người suốt đời không nhìn thấy ánh sáng. Vì mù lòa nên anh không thể tự kiếm ăn, anh phải ăn xin vệ đường và chịu mọi người khinh bỉ. Mù lòa thể xác dẫn tới mù lòa trí tuệ và tinh thần, những mù lòa này còn khổ hơn vì phải sống trong sự giả trá sai lạc. Mù lòa thiêng liêng chỉ có thể được soi sáng bằng những sự thật đến từ Thiên Chúa. Chỉ có Ngài mới có thể cất đi mù lòa và soi sáng tâm hồn. Chúa Giêsu từng xác nhận: “Ta là ánh sáng thế gian... Ta là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống.” Còn gì khổ hơn người suốt đời không biết sự thật, nhất là sự thật về đích điểm của cuộc đời. Anh biết mình cần được sáng mắt; vì thế khi được Chúa Giêsu hỏi: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Anh không chút ngần ngại trả lời: "Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được."
(2) Anh biết người nào có thể chữa mình: Bartimê mù chứ không điếc, anh để ý nghe ngóng những gì người ta đồn thổi. Qua sự nghe ngóng, anh tin chỉ có Chúa Giêsu mới có thể chữa anh khỏi mù. Khi cơ hội gặp Chúa Giêsu đến, anh nhất định không chịu bỏ qua.
(3) Anh không để bất cứ một trở ngại nào ngăn cản mình đến với thầy thuốc: Khi Chúa Giêsu đi ngang qua, anh mù gọi Chúa hai lần, lần thứ hai to hơn lần thứ nhất dù đã bị đám đông ngăn cấm. Khi biết Chúa gọi mình, anh tung áo choàng, bỏ tất cả mọi của cải anh có, đứng phắt dậy và chạy đến với Ngài. Người đang sống trong mù lòa đường thiêng liêng cũng cần có thái độ tương tự như anh. Đừng bỏ lỡ cơ hội học hỏi về Chúa, vì biết đâu khi cơ hội đã qua, nó sẽ không bao giờ trở lại nữa.
(4) Anh là người biết ơn và trả ơn Thiên Chúa: Sau khi được chữa lành, anh không bỏ đi như 9 người phong hủi; anh tung tăng đi theo Chúa Giêsu, có lẽ để ca tụng tình thương của Ngài đã dành cho anh cho mọi người được biết.

2.2/ Lòng thương xót của Chúa Giêsu: Thiên Chúa không bao giờ từ chối con cái vững lòng trông cậy nơi Ngài. Chúa Giêsu ban ánh sáng cho người mù vì Ngài nhìn thấy khát vọng được có ánh sáng và niềm tin của anh. Người nói: "Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!" Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.
Thiên Chúa chắc chắn không để những người muốn tìm hiểu về Ngài phải thất vọng. Ngài ban cho mọi người có rất nhiều cơ hội để học hỏi về Ngài và về Đức Kitô, qua việc gởi các sứ giả đến rao giảng Tin Mừng bên ngoài và gởi Thánh Thần làm việc bên trong tâm hồn con người. Ai thành tâm đi tìm Ngài, chắc chắn sẽ được Ngài cho gặp.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Đôi mắt là cửa sổ của linh hồn, chúng ta hãy biết dùng đôi mắt để nhận ra những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm và tin vào Ngài.
- Người mù phần xác đã khổ, người mù về tâm linh còn khổ hơn. Chúng ta đừng nhìn những gì Thiên Chúa tạo dựng cách thờ ơ, lãnh đạm; nhưng phải biết suy nghĩ để nhận ra Người đã tạo dựng nên chúng và tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người.


Tình thương vô bờ của Thiên Chúa và tình yêu toan tính của con người.

LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Tư Tuần 8 TN1, Năm Lẻ
 
Bài đọc: Sir 36:1, 4-5a, 10-17; Mk 10:32-45.

1/ Bài đọc I1 Lạy Thiên Chúa là Chúa Tể muôn loài,
xin dủ lòng thương và nhìn đến chúng con. Xin làm cho muôn dân sợ hãi Chúa.
4 để chúng nhận biết Ngài, như chúng con từng nhận biết xưa nay:
ngoài Ngài ra, lạy Đức Chúa, chẳng còn Thiên Chúa nào khác nữa.
5 Xin cho tái diễn những điềm thiêng và lại làm những dấu lạ khác.
10 Các chi tộc Gia-cóp, nguyện Chúa thương quy tụ cả về.
Xin thương trả lại phần gia sản như Chúa đã cho họ thuở ban đầu.
11 Lạy Đức Chúa, xin dủ lòng thương Ít-ra-en
là đoàn dân đã từng mang danh Chúa, và được Ngài kể như con đầu lòng.
12 Xin thương thành Giê-ru-sa-lem của Chúa, là thánh đô, là nơi Ngài nghỉ.
13 Xin làm cho khắp cả Xi-on vang lời tường thuật những kỳ công của Chúa,
và làm cho thánh điện được rực rỡ ánh vinh quang của Ngài.
14 Xin làm chứng bênh vực những gì Ngài đã tạo dựng thuở ban đầu,
những lời sấm đã tuyên nhân danh Ngài, xin thực hiện.
15 Xin ân thưởng những ai vững chí trông đợi Ngài, để các ngôn sứ của Ngài được mọi người tin tưởng. 16Lạy Đức Chúa, xin nghe lời những kẻ kêu van như lời ông A-ha-ron cầu phúc cho dân Ngài. 17 Và mọi người trên mặt đất sẽ nhìn nhận Ngài là Đức Chúa, là Thiên Chúa muôn thuở muôn đời.

2/ Phúc Âm32 Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi. Người lại kéo riêng Nhóm Mười Hai ra, và bắt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy đến cho mình:
33 "Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. 34 Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại."
35 Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây."
36 Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?"
37 Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang."
38 Đức Giê-su bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?"
39 Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giê-su bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được."
41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an.
42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; 44 ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người."


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Tình thương vô bờ của Thiên Chúa và tình yêu toan tính của con người.

Chúng ta không thể nào so sánh tình yêu vô biên của Thiên Chúa với tình yêu ích kỷ và hạn hẹp của con người. Thiên Chúa yêu thương và làm mọi sự cho con người hoàn toàn vô vị lợi, vì con người chẳng thêm thắt được cho Thiên Chúa điều gì dù nhỏ mọn. Trái lại, con người nhận được bao nhiêu hồng ân đến từ Thiên Chúa qua các biến cố tạo dựng, quan phòng, và cứu chuộc. Con người cần học hỏi để cảm nghiệm và xác tín vào tình yêu Thiên Chúa, để rồi đừng đòi hỏi bất cứ điều kiện gì nữa từ Thiên Chúa.
Các bài đọc hôm nay giúp chúng ta cảm nhận tình thương Thiên Chúa bằng cách so sánh tình yêu bao la của Thiên Chúa và tình yêu ích kỷ của con người. Trong bài đọc I, tuy Thiên Chúa đã chứng tỏ không biết bao lần tình yêu trung thành và tha thứ cho nhà Israel, họ vẫn có khuynh hướng xin Ngài tiếp tục tái diễn những tình yêu đó, để họ và các dân tộc nhận ra và tin tưởng vào Ngài. Trong Phúc Âm, trong khi Chúa Giêsu tiếp tục cuộc hành trình cuối cùng lên Jerusalem để chịu nộp, chịu đánh đập, và chịu chết trên Thập Giá cho con người; hai môn đệ Giacôbê và Gioan xin cho được ngồi hai bên với Chúa Giêsu trong vương quốc của Ngài. Điều này gây chia rẽ trong hàng ngũ các tông đồ, vì ai cũng muốn được như thế.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Mọi người trên mặt đất sẽ nhìn nhận Ngài là Đức Chúa muôn thuở muôn đời.

1.1/ Phải nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa: Trong lịch sử Cựu Ước, Thiên Chúa đã từng dủ lòng thương đến dân Ngài và đã từng làm cho các dân chung quanh phải kinh hồn sợ hãi uy danh của Ngài. Biến cố Xuất Hành và đưa dân vào Đất Hứa là một ví dụ chứng tỏ tình thương và uy quyền của Thiên Chúa. Qua biến cố này, người Do-thái phải không còn nghi ngờ gì về tình thương và uy quyền của Thiên Chúa. Biến cố Lưu Đày Babylon và cho dân trở về xây dựng lại Đền Thờ và xứ sở là một chứng tích khác cho tình thương tha thứ và uy quyền của Thiên Chúa.
Nhìn lại quá khứ, người Do-thái phải nhận ra tình yêu trung thành của Thiên Chúa. Ngài yêu thương họ với một tình yêu vô bờ bến dù họ chẳng có gì đáng yêu cả. Họ vẫn “xin cho tái diễn những điềm thiêng và lại làm những dấu lạ khác” để các thế hệ được nhận ra tình yêu của Ngài.

1.2/ Xin tình thương Thiên Chúa chảy tràn lan trên muôn người: Dân tộc Do-thái nhớ lại tình thương Thiên Chúa đã dành cho cha ông họ. Họ luyến tiếc thời huy hoàng của triều đại David, khi 12 chi tộc đoàn kết và bờ cõi quốc gia mở mang. Họ nhớ lại cảnh huy hoàng của Đền Thờ Jerusalem và sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa họ. Họ xin cho những điều này trở lại để họ lại được chứng kiến tình yêu Thiên Chúa.
Tuy thế, họ không thể cứ đòi buộc Thiên Chúa phải tỏ tình mãi mãi. Họ phải biết khi Thiên Chúa làm giao ước, Thiên Chúa hoàn toàn tự nguyện và làm vì lòng thương yêu họ; dân tộc Do-thái chẳng làm thêm được gì cho Ngài. Ngược lại, họ ngang nhiên xé bỏ giao ước, để rồi Thiên Chúa lại phải ký kết với họ một giao ước mới hoàn hảo hơn, giao ước này được thực hiện qua Đức Kitô và máu của Ngài. Dân tộc Do-thái và chúng ta chẳng có quyền đòi hỏi gì hơn nữa nơi Thiên Chúa. Ngược lại, chúng ta phải mở mắt để nhận ra những gì Thiên Chúa đã, đang, và sẽ làm, để cảm nghiệm được tình yêu sâu xa Thiên Chúa dành cho chúng ta. Sau đó, chúng ta phải biết đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng cách trung thành giữ các Luật truyền, và rao giảng tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người, để họ cũng nhận ra tình yêu Thiên Chúa và tin tưởng nơi Ngài.

2/ Phúc Âm: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người."

2.1/ Tình yêu tính toán của các tông đồ: Không giống như Matthew, người đặt lời yêu cầu nơi miệng của người mẹ; Marcô đặt lời thỉnh nguyện vào hai người con ông Zebedee là Giacôbê và Gioan. Họ đến gần Đức Giêsu và nói: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang." Chúng ta có thể nhận ra 3 điều từ cuộc đàm thoại của các ông với Chúa Giêsu và với nhau.
(1) Theo Chúa để được làm lớn: Hai ông muốn ngồi chỗ cao nhất, chỉ thua có Đức Kitô. Con người khi yêu thương ai luôn có những tính toán hơn thiệt, chứ ít có những ai muốn “mong ước điều tốt cho người khác” như định nghĩa đúng của tình yêu. Các tông đồ cũng chưa vượt qua tính ích kỷ nhỏ nhen này. Marcô không ngại phơi bày tính xấu của các tông đồ.
(2) Các ông sẵn sàng hy sinh dẫu chưa biết nguy hiểm sẽ xảy đến: Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được." Đây là điểm đáng khen của hai ông, vì có những người chỉ muốn vinh quang chứ không muốn hy sinh gian khổ.
(3) Tham vọng sinh ghen tức: Trình thuật kể: “Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan.” Các ông có thể nghĩ: Chỉ có hai chỗ nhất, mà hai anh em dành hết, bọn này sẽ ngồi đâu? Các ông hầu như không để ý một chút gì đến việc chia sẻ với Chúa Giêsu và biến cố trước mặt, mà chỉ để ý đến việc chia chỗ sau khi Chúa Giêsu đã chiến thắng vinh quang.

2.2/ Tình yêu hy hiến của Chúa Giêsu: Đây là lần thứ ba Chúa Giêsu báo trước Cuộc Thương Khó của Ngài, và càng ngày càng chi tiết hơn (x/c Mk 8:31; 9:31; 10:33). Chúng ta có thể nhận ra 3 đặc điểm chính của tình yêu của Chúa Giêsu.
(1) Người lãnh đạo luôn dẫn đầu, chứ được sợ như những môn đệ. Người lãnh đạo phải biết chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ và căn dặn những điều cần thiết để các môn đệ biết cách ứng xử.
(2) Chúa dạy các ông bài học quan trọng của tình yêu: phục vụ. Chúa Giêsu chắc chắn cảm thấy buồn khi điều này xảy ra cho Ngài, và Ngài cũng biết nếu cứ để các ông hành xử theo tính con người, những dự tính tương lai của Ngài cho các ông sẽ tan tành mây khói. Vì thế, Ngài phải dạy cho các ông một bài học quan trọng: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.”
(3) Chúa Giêsu không chỉ dạy, Ngài làm gương cho các môn đệ. Chúa Giêsu áp dụng lời dạy vào chính Ngài: “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người." Ngài đang cất bước đi trước, sẵn sàng chấp nhận khổ giá để làm gương cho các tông đồ.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta cần học hỏi để cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.
- Bổn phận của chúng ta là nhận ra và đáp trả, chứ không thể tiếp tục đòi Thiên Chúa phải bày tỏ tình yêu; cũng đừng bao giờ đòi điều kiện với Ngài trước khi đáp trả.

Thứ Hai, ngày 25 tháng 5 năm 2015

Hãy làm việc lành phúc đức để giúp đỡ mọi người.

LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Thứ Hai Tuần 8 TN1, Năm Lẻ

Bài đọc: Sir 17:20-24; Mk 10:17-27.

1/ Bài đọc I: 20 Những điều bất chính chúng làm không giấu Người được,
mọi tội lỗi chúng phạm đều lộ ra trước mặt Đức Chúa.
22 Việc từ thiện ai làm thì tựa như dấu ấn đối với Người,
ân đức của người ta, Người giữ mãi như con ngươi trong mắt.
23 Cuối cùng, Người sẽ đứng lên và ban thưởng,
và phần thưởng ấy, Người sẽ đặt trên đầu chúng.
24 Có điều là ai sám hối thì Người ban cho ơn trở về,
và những kẻ sờn lòng nản chí, Người cũng sẽ ủi an.

2/ Phúc Âm: 17 Đức Giê-su vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?"
18 Đức Giê-su đáp: "Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa.
19 Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ."
20 Anh ta nói: "Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ."
21 Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: "Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi."
22 Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.
23 Đức Giê-su rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: "Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!"
24 Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: "Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao!
25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa."
26 Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau: "Thế thì ai có thể được cứu?"
27 Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói: "Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được."

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy làm việc lành phúc đức để giúp đỡ mọi người.

Hầu như niềm tin của tất cả các tôn giáo lớn đều dạy “ở hiền gặp lành và ở ác gặp ác.” Giáo thuyết của Phật Giáo dạy: “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc giúp cho một người,” có nghĩa việc giúp cho một người quan trọng hơn là việc xây tháp chín tầng để kính nhớ Phật. Trong Kitô Giáo, Đức Giêsu đã cho chúng ta biết trước tiêu chuẩn Ngài sẽ dùng để phán xét trong Ngày Tận Thế: “việc gì anh em làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là làm cho Ta.”
Các bài đọc hôm nay tập trung trong sự quan trọng của việc làm phúc. Trong bài đọc I, tác giả sách Huấn Ca dẫn chứng cho chúng ta lý do phải làm lành lánh dữ là vì Thiên Chúa nhìn thấy tất cả. Ngài ghi nhớ tất cả những việc lành chúng ta làm và thưởng công xứng đáng. Trong Phúc Âm, khi một người chạy đến hỏi Chúa Giêsu về con đường nên trọn lành, Ngài bảo anh hãy về bán tài sản để giúp đỡ người nghèo, rồi trở lại theo Ngài. Khi làm như thế là anh sắm cho mình một kho tàng trên trời; nhưng anh buồn rầu bỏ đi vì quá tiếc của.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Việc từ thiện ai làm thì tựa như dấu ấn đối với Người.

1.1/ Thiên Chúa nhìn thấy tất cả những gì con người làm: Người Việt-nam chúng ta tin “trời cao có mắt.” Tác giả sách Huấn Ca tin không một điều gì con người làm mà Thiên Chúa không biết: “Những điều bất chính chúng làm không giấu Người được, mọi tội lỗi chúng phạm đều lộ ra trước mặt Đức Chúa. Việc từ thiện ai làm thì tựa như dấu ấn đối với Người, ân đức của người ta, Người giữ mãi như con ngươi trong mắt.” Nếu một người tin Thiên Chúa hay Ông Trời nhìn thấy mọi sự, họ phải cố gắng làm điều lành, tránh điều dữ; nếu không họ sẽ phải trả giá cho những điều bất chính họ làm, vì “ác giả, ác báo.”

1.2/ Thiên Chúa sẽ ân thưởng xứng đáng những ai làm phúc: Truyền thống các tôn giáo lớn đều tin “ở hiền gặp lành.” Cho dù những tôn giáo không tin có cuộc sống đời sau, họ vẫn tin ông Trời sẽ phù hộ cho những ai mạnh tay làm phúc cho người nghèo khổ. Họ sẽ được chúc lành, làm ăn nên, con đàn cháu đống, và sống lâu trăm tuổi. Tác giả sách Huấn Ca cũng dạy sự ban thưởng của Thiên Chúa cho những người giúp kẻ hoạn nạn: “Cuối cùng, Người sẽ đứng lên và ban thưởng, và phần thưởng ấy, Người sẽ đặt trên đầu chúng.” Không những thế, truyền thống Do-thái còn tin ai làm việc lành, sẽ đền bù tội lỗi của mình: “ai sám hối thì Người ban cho ơn trở về, và những kẻ sờn lòng nản chí, Người cũng sẽ ủi an.”

2/ Phúc Âm: Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời.

2.1/ Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Bối cảnh quan trọng của cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu với chàng thanh niên và các môn đệ là “phải làm gì để đạt được cuộc sống đời đời.” Anh thanh niên đã tin có cuộc sống đời đời và anh muốn biết cách làm sao để đạt được cuộc sống này. Sau khi đã hỏi anh về những giới răn quan trọng, nhưng không đòi nhiều cố gắng lắm để vượt qua, Chúa Giêsu đi vào điểm then chốt. Người bảo anh ta: "Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi." Chúa Giêsu đòi anh phải lựa chọn một trong hai: cuộc sống đời đời hay cuộc sống đời này. Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Anh muốn bắt cá hai tay: được cả đời này và đời sau.

2.2/ Người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa. Sau khi người giàu có bỏ đi, Đức Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: "Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!" Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: "Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa."
Trước tiên, chúng ta cần làm sáng tỏ vấn đề: Chúa Giêsu không kết tội người giàu. Ngài không bảo người giàu có không thể vào Nước Thiên Chúa; nhưng Ngài bảo "những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!" Tại sao giàu có làm cho con người khó vào Nước Thiên Chúa? Chúng ta có thể liệt kê 3 lý do chính sau đây:
(1) Giàu có làm con người quên đi mục đích cuộc đời, để rồi chỉ biết tập trung mọi thời gian và cố gắng để thu quét của cải và hưởng thụ.
(2) Giàu có làm con người chỉ biết đánh giá trị mọi sự trên đồng tiền, và bỏ quên tập luyện những giá trị tinh thần hay vĩnh cửu. Ví dụ, họ chỉ dành thời giờ cho những việc mang lại lợi nhuận vật chất, mà không chịu bỏ thời giờ học Kinh Thánh để biết về Thiên Chúa và những lời dạy dỗ khôn ngoan của Ngài.
(3) Giàu có làm con người kiêu căng, phách lối, và khinh thường người khác. Họ quên đi rằng “Ở đời muôn sự của chung.” Mọi người đều có quyền hưởng của cải Thiên Chúa ban như một phương tiện để sinh sống khi còn ở đời này. Họ không có quyền tích trữ của cải trong khi tha nhân đói khát, chứ chưa nói việc đánh cắp công ơn Thiên Chúa và khinh thường tha nhân.

2.3/ Tại sao các môn đệ sững sờ và sửng sốt? Hai lần trong trình thuật đề cập tới thái độ ngạc nhiên của các môn đệ về những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, và các ông hỏi nhau: “Thế thì ai có thể được cứu?”
Lý do các ông ngạc nhiên vì truyền thống Do-thái tin giàu có là dấu hiệu Thiên Chúa chúc phúc cho những người biết kính sợ Thiên Chúa và ăn ở ngay lành, cùng với các ơn lành khác như con đàn cháu đống và sống lâu trăm tuổi. Nếu sự thịnh vượng là dấu hiệu của mối liên hệ tốt đẹp giữa con người với Thiên Chúa, tại sao Chúa Giêsu lại đảo ngược niềm tin truyền thống? Chúa Giêsu chắc chắn không nói tới việc giàu có do Thiên Chúa chúc lành, Ngài muốn nói tới việc con người tự vơ vét làm giàu, mà không cần biết có công bằng hay không. Ngài cũng muốn đề cập đến việc con người không biết quản lý các tài sản mà Thiên Chúa đã trao phó cho họ.
Vì thế, con người sẽ bị Thiên Chúa phán xét về cách thâu nhận tài sản, công bằng hay bất công, và cách tiêu xài của cải, đúng hay không đúng. Vì con người chỉ là quản lý chứ không phải chủ nhân của tài sản, Thiên Chúa là chủ nhân của tài sản. Người càng giàu sẽ bị Thiên Chúa phán xét càng nhiều. Nếu họ không biết cách tiêu xài, sự giàu có sẽ sinh thiệt hại cho họ nhiều hơn làm lợi ích.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta hãy cố gắng làm việc lành nhiều để đền bù tội lỗi của mình, vì đó là cơ hội Thiên Chúa ban và Ngài kể là làm cho chính Ngài.
- Chúng ta cần xác tín vào sự quan phòng của Thiên Chúa, để rồi đừng mặc sức vơ vét của cải cho mình và cho gia đình. Hãy bằng lòng với những gì Thiên Chúa trao ban và học biết cách xử dụng để sinh lời cho Thiên Chúa.
- Hãy biết dành thời giờ để chú trọng vào những giá trị cao hơn vật chất: sự hiểu biết và lòng yêu mến Thiên Chúa, sự sống vĩnh cửu, và việc rao giảng Tin Mừng.


Tị nạn giáo dục : Còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi hết…



http://www.chuacuuthe.com/2015/05/ti-nan-giao-duc-con-di-nhieu-di-trong-rong-di-het/


Phù Sa phỏng vấn nhà văn Dạ Ngân
Du học để “tị nạn giáo dục”
Các ông bố, bà mẹ hiện đại ở các đô thị đang có xu hướng “ấn” con đi du học càng sớm càng tốt ? Xu hướng này phản ánh điều gì về tâm lý và sự thay đổi trong xã hội hiện nay ?
Xin đừng quên người Việt mình rất chăm con, bất đắc dĩ người ta mới chịu xa con sớm và họ biết rõ, con mình sẽ “lóng ngóng” ở xứ người một thời gian dài.
Nhưng tại sao có tâm lý đua nhau cho con đi sớm ? Là vì cung cách của nền giáo dục không còn khiến người ta an tâm.
Tính hiếu học của người Việt đang bị thách thức. Những người có tiền không dại gì để con mình chịu đựng sự thể nghiệm mãi của những nhà cải cách và phải học theo kiểu “nhồi sọ” ở trường, lại còn phải học thêm học nếm mãi.
Ở khía cạnh giáo dục, chị lý giải hiện tượng này như thế nào ?
Ngày nay, nhiều người Việt ra nước ngoài là để tị nạn giáo dục.
Tình hình đã mười mươi như vậy, nhưng hình như phía vĩ mô không muốn thay đổi. Làm giáo dục mà không triết lý giáo dục thì sao thiết kế được?
Sao các môn xã hội không có sức hấp dẫn mà còn khiến Học Sinh bội thực, ngán ngẩm ? Các em không thích môn văn, không yêu môn sử, không thiết tha môn địa, không “vào” với môn đạo đức công dân? Vậy thì giỏi toán và giỏi các môn tự nhiên để làm gì, để làm người Việt ngô ngọng hay làm rô – bốt ?
Tôi thấy bất an với kiểu làm sách giáo khoa, tôi ngạc nhiên với sự im lặng của chính các thầy cô trong ngành giáo dục. Họ biết cả đấy, họ chán đấy mà họ không làm gì, không ai lên tiếng, họ sợ họ hèn hay họ đã chai lì cả rồi ?
Nếu tôi là một quan chức trong ngành giáo dục thì chắc chắn tôi sẽ từ chức. Không làm gì nổi nữa, chỉ có cách cho con cho cháu “tị nạn” mà thôi.
Không phải chép văn mẫu đã là “được làm người”
Một gia đình có con trúng học bổng Singapore năm 14 tuổi đã phấn khích thốt lên: “ôi, cháu tôi đã được làm người”.
“Ôi, cháu tôi được làm người” là một câu nói có vẻ quá lên nhưng bên trong nó có sự thật đó chứ!
Hãy xem trường điểm và trường chuyên đã làm cho cha mẹ các em phải chạy chọt và gây thêm ách tắc giao thông như thế nào? Hãy xem tuổi thơ của các em nhỏ đang được chơi hay đang bị học kiểu “nhồi thức ăn cho ngỗng”? Một cô cháu họ của tôi kể, trong thực hành môn Văn lớp 4 của con nó có thứ đề đại loại: “Hãy viết một bức điện tín”. Chính tôi đã từng giúp cho đứa cháu ngoại học lớp 5 ở Hà Nội làm đề ngoại khóa là “Hãy viết suy nghĩ của em về chiến thắng của trận Điện Biên Phủ trên không?”.
Có phải bắt các em làm chính trị gia hay làm công dân sớm? Sao không để cho các em tiểu học được phát triển tự nhiên cả trong tình yêu đất nước, gia đình, thầy cô và tiếng Việt mà cứ làm cho chúng chán ngấy lên vậy?
Cho con du học là xu hướng đã có từ thời thuộc Pháp, để con cái được học cái văn minh, được sống và được thụ hưởng môi trường văn hóa cao. Tại sao người ta thích cho con đi Singapore, đảo quốc ấy có đúng là thiên đường ở châu Á mà chúng ta đang mơ ước không?


Nhưng chị có nghĩ rằng bọn trẻ sẽ có những tổn thương tâm lý vì xa bố mẹ từ khi còn quá nhỏ?
Tôi không có con nhỏ nhưng tôi đã khuyến khích và đóng góp cho cháu ngoại của tôi vào trường quốc tế từ đầu cấp II. Vì sao? Vì ở đó nó được học chương trình giảm tải, nó được học tiếng Anh bằng phương pháp đúng và không phải làm văn mẫu.
A ha! Riêng việc không phải làm văn kiểu học thuộc lòng và chép nguyên xi văn mẫu đã là “được làm người” rồi. Nó học văn một cách hào hứng và tiếng Việt của nó dậy hương là vì nó được làm văn theo suy nghĩ của mình. Cả nhà xúm nuôi một đứa bé, cực nhưng mà vui, không bị sốc, không bị stress vì “né” được nhiều “ngón hành hạ” của ngành giáo dục trong nước.
Các trường ở Singapore họ hay nhảy vào các trường điểm và trường chuyên của chúng ta để “hớt váng” từ năm lớp 9 hoặc lớp 10.
Số đi du học tự túc thì đủ lứa tuổi. Các em phải chịu thiệt thòi nhưng nền giáo dục của các nước văn minh rèn người khá hay.
Theo tôi, đi từ đầu cấp III là vừa, cho đi sớm hơn là sẽ có hậu quả.
Con mình nuôi lớn mà người ta “dùng”
Việc mỗi gia đình tự lo cho tương lai của con cái như vậy sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt cho đất nước ?
Rõ ràng là nhân tài sẽ thất thoát. Con cái mình nuôi lớn mà người ta dùng, toàn là người thông minh và nhiều người tài đấy chứ. Có đau không, có ức không? Đành chịu.
Các vị ở trên cao có xót không, xót sao không tìm cách và không thay đổi?
Liệu gia đình và chính các em Học Sinh đó có phải trả cái giá nào không ?
Đừng có mà đùa dai với truyền thống hiếu học của người Việt. Sẽ còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi bằng hết, nếu những người cầm trịch của chúng ta không giật mình thì sẽ không cứu vãn được làn sóng tị nạn này đâu.
Rồi sẽ có thêm những thế hệ Việt kiều không biết tiếng Việt, quê hương đất nước xa vời. Đừng nghĩ người Việt sẽ cố kết tình quê hương và đất nước như cộng đồng người Tàu. Chúng ta là những người Việt trần ai, rất dễ bời rời và mất gốc khi ở xứ người.
Nhà văn, nhà báo Dạ Ngân sinh năm 1952, từng tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du. Là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết nổi tiếng. Trong đó, đặc biệt và gây tiếng vang nhất là tiểu thuyết “Gia đình bé mọn” đã đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội.


Tân Đảo: người Việt xưa và nay, đạo và đời


http://www.chuacuuthe.com/2015/05/tan-dao-nguoi-viet-xua-va-nay-dao-va-doi/

TÂN ĐẢO: NGƯỜI VIỆT XƯA VÀ NAY, ĐẠO VÀ ĐỜI
MỘT PHIÊN BẢN ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI
Lm Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT
Tân Đảo- Bản đồ du lịch 2015
Chợ thành phố Nouméa và Trụ sở Chính quyền Tân Đảo năm 2015
1. Nhân dịp đến Melbourne tham đự Đại hội Đức Mẹ La Vang, tôi tranh thủ mấy ngày giữa tuần, sang thăm họ hàng bên Nouvelle-Calédonie, (Tân Scotland, từ cổ theo cách gọi của Pháp, do một nhà thám hiểm người Anh đặt ra vào cuối thế kỷ XVIII), người Việt thường gọi là Tân Đảo, hoặc Tân Thế Giới, một quần đảo nằm ở phía Đông Australia khoảng 1700 km, là thuộc địa của Pháp từ giữa thế kỷ XIX, có diện tích khoảng hơn 18 nghìn km2 và dân số khoảng 270 nghìn người, trong đó người bản xứ da đen chiếm khoảng non nửa, số còn lại là người Pháp, người Indonesia, người Việt và một số sắc dân thiểu số khác. Kinh tế chủ yếu là đánh cá, du lịch và nhất là khai thác nickel.
Phu mỏ người Việt ở mỏ Néhoué nửa đầu thế kỷ XX
Phu mỏ người Việt lấy củi ở mỏ Chagrin năm 1943
Nữ công nhân tại một mỏ ở Miền Bắc Tân Đảo năm 1943
2. Những người Việt đầu tiên có mặt ở Tân Đảo là các tù nhân. Họ bị người Pháp đưa sang đây lưu đầy từ cuối thể kỷ XIX. Đến đầu thế kỷ XX người Pháp chiêu mộ thanh niên thiếu nữ Bắc Kỳ đưa sang đây làm phu mỏ. Dòng họ nhà tôi cũng có mấy người sang năm 1936, thuộc những lớp phu mỏ cuối cùng đến từ Việt Nam. Theo hợp đồng thì sau 5 năm, họ có thể trở về Việt Nam nếu muốn. Thế nhưng, vì thế chiến II bùng nổ (1939-1945), rồi tiếp theo là chiến tranh Việt – Pháp (1945-1954), cho nên họ kẹt lại ở Tân Đảo. Từ năm 1954 đến 1964, phần lớn trở lại Việt Nam theo sự tuyên truyền của Việt Minh. Họ hàng nhà tôi cũng có người trở về năm 1954; tuy nhiên, những người này năm 1955 lại trốn ra Hải Phòng rồi di cư vào Nam và nay đang định cư tại San Hose. Sau năm 1964 số người ở lại Tân Đảo còn không đầy một nghìn và phần lớn là người Công giáo, nhờ biết nghe lời cha Giuse Nguyễn Năng Vịnh và cha Giuse Nguyễn Duy Tôn, là những người đã hiểu biết Việt Minh qua các vụ “Phú Ninh quằn quại, Cao Mại đau thương” do cộng sản gây nên ở Bùi Chu và Thái Bình. Cũng có những người ngoại đạo ở lại nhờ khôn ngoan và cẩn trọng. Chẳng hạn như gia đình ông Albert Qúach, 74 tuổi, sinh ra tại Tân Đảo. Ông kể rằng: “Cha mẹ tôi nghe Việt Minh tuyên truyền thì bảo: “Để chúng tao về trước đã. Hễ tao viết thư sang đây mà chỉ kể toàn điều tốt đẹp, thì chúng mày đừng về!”. Thế là chúng tôi may mắn ở lại, và năm 1984, tôi đưa được bố mẹ tôi trở lại Tân Đảo sống với anh em chúng tôi cho đến chết!”
Những năm gần đây người bản xứ ở Tân Đảo gọi là mélanésiens quyết liệt đấu tranh đòi độc lập, kể cả sử dụng bạo lực. Người Việt nhờ chịu khó làm ăn nên cuộc sống trở nên khá giả hơn nhiều người bản xứ và cũng vì vậy họ trở thành đối tượng bài trừ và đe dọa công khai của một số người cực đoan, bất hảo. Bác tôi kể có anh hàng xóm công khai tuyên bố nhiều lần rằng: Mai kia đảo quốc độc lập, các anh sẽ đuổi người Việt như bác khỏi Tân Đảo và cái nhà bác đang ở anh sẽ chiếm làm nhà anh. Trong khi đó, ông Albert Quách, một ‘đại gia” ở thủ phủ Nouméa nói rằng, mấy năm trước, ông cảm thấy nguy hiểm và ông đã mua nhà bên Brisbane, Úc Đại Lợi. Ông còn mua một cái tầu lớn nay vẫn neo trên vịnh Nouméa, vì chưa biết cuộc trưng cầu dân ý sắp tới vào năm 2018 kết quả thế nào. Ông nói, hễ có biến, lập tức ông đưa cả nhà, cả họ xuống tầu chạy ra khơi cho an toàn. Nhiều người Việt đang sống ở Tân Đảo hiện nay, đến từ Vanuatu, cũng là thuộc địa của Pháp như Tân Đảo, đã trải qua kinh nghiệm mất nhà cửa và sản nghiệp khi quần đảo này độc lập vào năm 1980. Chính vì vậy, bên cạnh nỗi khó chịu của cảnh tiền nhiều mà vẫn sống thiếu tiện nghi vì là nơi đảo xa, thì tương lai chính trị bấp bênh cũng là một trong những nguyên nhân khiến số người Việt cư trú ở Tân Đảo liên tục suy giảm, từ con số 2822 người năm 1996, chiếm 1,43 % dân số, giảm xuống còn 2357 người năm 2009, tức chỉ còn 0.96 % dân số theo thống kê của Pháp (http://fr.wikipedia.org/wiki/Nouvelle-Cal%C3%A9donie#Population). Số mới sinh ra và số mới đến theo hôn nhân không đủ bù lại số người từ Tân Đảo di cư sang Pháp, Canada và Úc Đại Lợi. Dù sao thì những người Việt còn lại ở Tân Đảo vẫn chiếm được thiện cảm của đa số người dân, nhất là của giới chủ nhân và giới trí thức, vì hơn người bản xứ, người Việt đẹp trai, đẹp gái, hiền lành, không quậy phá, chịu khó làm việc và làm việc nghiêm túc, lại nấu ăn ngon, dù trình độ nấu ăn của họ theo tôi còn xa mới theo kịp người Việt tỵ nạn cộng sản ở Hoa Kỳ hay Úc Đại Lợi.
Ông bà bác tôi khi còn sống trong lần về VN năm 1995
3. Nói về những người họ hàng nhà tôi. Bà bác tôi vốn là nông dân nghèo khó, cực chẳng đã hai ông bà cùng mấy người họ hàng mới sang Tân Đảo đi làm phu mỏ mà người Việt ở đây gọi là người “Chân Đăng” (pieds engagés). Sau năm 1954, gia đình bà là người duy nhất trong họ và cũng là duy nhất trong làng tôi còn ở lại Tân Đảo. Từ đầu những năm 1950, gia đình ông bà đã chuyển về quận Paita, thuộc Miền Nam, gần thủ phủ Nouméa, sinh sống bằng nghề trồng rau. Năm 1976 bà về lại quê hương lần đầu sau 40 năm xa cách và sau đó bà còn về nhiều lần nữa cho đến trước khi bà qua đời vào năm 2001. Các con của bà, tất cả đều sinh ra và lớn lên ở Tân Đảo. Người lớn tuổi nhất năm nay đã 78 và người trẻ nhất cũng đã 67. Khi ông bà đã qua đời, các bác tiếp tục liên lạc với họ hàng ở Việt Nam và khi họ biết có hai cháu là tôi và chị Anna Phạm Thu Hà, Dòng MTG Lưu Phương, Phát Diệm, đang ở Roma, thì họ đã nhờ thầy Georges Benigaud, Dòng Maristes, tìm gặp chúng tôi nhân dịp thầy từ Tân Đảo sang Roma dự hội nghị của Dòng năm 2014.
Hai bác và một cháu. Tân Đảo 2015
Bà bác tôi, sinh được 8 người con, trong số đó một bác kết hôn với người bản xứ, một với người Algerie, số còn lại đều lấy người Việt. Các bác cũng đã được sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khốn khó nơi đất khách quê người, không được đi học và phải vào đời sớm, vì vậy nét lam lũ và quê mùa còn hiện rõ trên thân hình, trên gương mặt và trên đôi bàn tay từng người. Vì không được đi học, sống khép kín với nhóm người Việt, cho nên các bác vẫn còn nói và viết tiếng Việt rất tốt, nói đúng cung giọng của người Việt ở làng quê Bắc Việt thời chưa có radio và truyền hình. Cũng như phần lớn những người Việt khác ở đây, nhờ cần cù, chịu khó và tiết kiệm, đời sống vật chất của các bác có vẻ khá hơn hẳn người bản xứ và ai cũng có nhà riêng và đất rộng giữa vùng Grand Nouméa là vùng kinh tế phát triển nhất và tập trung đông dân cư nhất của Tân Đảo. Việc giữ đạo cũng rất truyền thống, không biết trước đây thế nào, nhưng nay hầu như ai cũng gắn bó với các hội đạo đức của các giáo xứ, và là những cộng tác viên đắc lực của các cha, các thầy các sơ, bởi thế khi nghe tin tôi đến thăm, thì tất cả các cha và các thầy trong vùng và hầu hết các sơ đều đến nhà các bác gặp gỡ, ăn uống và trò chuyện rất thân thiện.
Bốn cha, ba thầy, một cháu và hai bác. Tân Đảo tháng 5 2015
Một số anh em họ hàng. Tân Đảo tháng 5 năm 2015
Con cái các bác, tức thế hệ thứ ba, những người mà tôi phải gọi là anh chị, năm nay tuổi cỡ 40 đến 60, hầu hết đều hiểu tiếng Việt; nhưng số học cao, làm giáo viên, cảnh sát, kỹ sư, y tá, bác sĩ, luật sư thì nói tiếng Việt kém, trong khi số làm công nhân, hoặc làm vườn thì nói tiếng Việt tốt hơn. Tôi xin nói thêm rằng, trong cái nhìn của cư dân ở đảo này, thì người Việt là những chuyên viên trồng rau giỏi nhất. Tôi nghe các anh chị kể rằng các kỹ sư canh nông bản xứ cũng phải tìm đến vườn rau của người Việt để quan sát, ghi chép rồi phổ biến kỹ thuật trồng rau cho dân chúng. Dù cung cách trồng rau ở đây vẫn còn đậm nét tiểu nông của Bắc Việt thời xưa, hoàn toàn không có chút gì mang dáng dấp công nghiệp như các nông trang hiện đại của người Việt ở Úc Đại Lợi; song le, đất trồng rau thường là đất công được sử dụng miễn phí, trong khi giá rau lại khá đắt (xà lách giá khoảng 5-6 USD/kg, khoai môn 7-8 USD/kg, rau muống 4-5 USD/kg, chanh dây 6-7 USD/kg) cho nên người trồng rau vẫn có thể sống sung túc.
Các anh chị chuẩn bị rau cho một buổi chợ. Tân Đảo 2015
Gặp mặt gia đình. Tân Đảo tháng 5 năm 2015
Con cháu các bác có đời sống tôn giáo và luân lý khác xa các bác là những người thuộc thế hệ thứ hai sống ở đây. Một số anh chị sống đạo tốt và kinh kệ lễ lạy hàng ngày. Một số bỏ lễ chủ nhật. Đời sống hôn nhân có sự khủng hoảng lớn. Thống kê của chính phủ cho thấy có khoảng 1/3 số cặp hôn nhân trên đảo ly dị chính thức. Thực tế số ly dị còn cao hơn, vì nhiều cặp không ra tòa. Trong số con cái các bác, tôi thấy một số anh chị sống độc thân; một số chung sống với nhau như vợ chồng mà không làm thủ tục hôn nhân đạo đời; một số cặp bỏ nhau; có 4 anh bị vợ bỏ, hiện đang ở vậy nuôi con và mang hội chứng sợ phụ nữ. Khổ thân! Có một anh, sau 3 lần cưới người bản xứ và 3 lần bị vợ bỏ, anh đã về Việt Nam cưới bà vợ thứ bốn. Tất nhiên là không có phép đạo nghĩa gì. Các anh chị như thế thì con cái rồi sẽ ra sao? Tôi gặp khoảng hơn chục người cháu tuổi từ 5 cho đến khoảng hơn 30. Có mấy cháu nói được tiếng Việt khá và hầu hết vẫn hiểu tiếng Việt, nhưng quan niệm sống thì khá “man rợ”, có lẽ vì các cháu vừa ảnh hưởng luân lý “thô sơ” của người bản địa, vừa ảnh hưởng lối sống tự do tính dục của người Pháp thời hiện đại. Có cháu gái mới 20 tuổi mà đã chung sống với bạn trai có 2 con, một 4 tuổi, một 2 tuổi. Trong khi đó một cháu trai lai da đen mới 17 tuổi, đã bỏ học, ở nhà làm vườn, đang đòi sang năm đủ 18 tuổi sẽ ra ở riêng và sẽ lấy vợ! Tôi thấy ở đảo này, mặc dù kiếm tiền dễ dàng, nhưng vì là nơi xa cách với phần còn lại của thế giới, ít dân, ít tiện nghi (có lẽ ít hơn cả ở Việt Nam), ít có các sinh hoạt giải trí, văn hóa, khoa học, cho nên giới trẻ dễ sa đà vào chuyện nghiện ngập, nhất là nghiện hút cần sa (cannabis), một thứ cây được trồng khá phổ biến, bán công khai tại nhiều gia đình, nhất là người bản xứ.
Tân Đảo tháng 5 năm 2015. Các cháu lai da trắng và lai metis
Một cháu lai mélanésien 17 tuổi đang muốn sang năm 18 sẽ lấy vợ
Hai cháu lai da trắng và da đen. Tân Đảo tháng 5 năm 2015
Có một điều tôi lấy làm an ủi và mang lại ít nhiều hy vọng là sự quan tâm đến nhau và ý thức gắn kết giữa các thành viên trong đại gia đình còn khá mạnh. Qua các câu chuyện và qua quan sát, tôi thấy giữa các bác với nhau, dù đã lớn tuổi và sống cách nhau từ vài km đến vài chục km, nhưng rất quan tâm đến cuộc sống của nhau và quan tâm đến các con các cháu của nhau. Các con các cháu nhà bác này chạy sang nhà bác kia, ăn uống, trò chuyện và chia sẻ công việc với nhau rất cởi mở và thân thiện. Các bác cũng còn có tiếng nói trên đời sống của các cháu chắt và các cháu chắt cũng còn ít nhiều biết nghe lời bố mẹ và các cô dì chú bác. Các con cháu lai da trắng hoặc da đen vẫn thể hiện nhiều tập quán, nhiều lối ứng xử điển hình của người Việt làng quê Miền Bắc ngày xưa, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Từ lối tổ chức cuộc sống gia đình, cách ứng xử đến cách ăn uống và đọc kinh cầu nguyện. Chẳng hạn khi biết tin tôi đến, các bác và các anh chị ở xa tới tấp gọi điện thoại thăm hỏi và buổi tối thì mọi người già trẻ lớn bé bồng bế, dắt nhau chạy đến nhà bác nơi tôi ở để thăm viếng và trò chuyện đến khuya giống y cảnh nhà quê Bắc Việt thời trước. Ngay bữa đầu tiên các bác đã chiêu đãi thịt gà và gỏi cá truyền thống theo đúng quan niệm “cơm gà cá gỏi” của người Bắc xưa khi đãi khách. Trước hôm tôi về tất cả các bác cùng con cái dâu rể cháu chắt bỏ việc nguyên ngày để hội lại cùng cầu nguyện, ăn uống, trò chuyện và xem phim ảnh về gia đình, dòng họ từ 10g sáng đến 5g chiều. Tôi ngạc nhiên nhất khi thấy bà vợ của một ông bác, người bản xứ da đen, nấu món giả cầy và cuối bữa ăn bà còn nổi hứng hát mấy bài kính Đức Mẹ bằng tiếng Việt. Bà cũng hiểu được tiếng Việt khá khá và trong khi nói chuyện bằng tiếng Pháp bà cũng dùng một số từ ngữ Việt Nam như người Việt sinh ra ở đây…
Cơm gà cá gỏi. Bữa ăn tại nhà một người bác ở Tân Đảo tháng 5 năm 2015
Bác dâu người bản địa melanésiene chuẩn bị món bún giả cầy. Tân Đảo 2015
4. Hiếu khách dường như là đặc tính chung của cư dân các đảo xa? Ngay buổi chiều khi tôi đến, các thầy dòng Maristes trong vùng đã đến ăn cơm chung và mời tôi sang hôm sau dâng lễ ở tu viện các thầy. Ngay trưa hôm sau, hai cha xứ trong quận Paita cũng đến ăn cơm, trò chuyện thân thiện như người nhà và mời tôi làm lễ chiều ở một nhà thờ. Cha Phêrô Ngô Quang Quý, từ thủ phủ Nouméa, cách khoảng 30 km cũng có mặt. Quý soeurs Dòng Tiểu muội Đức Mẹ Maria thì lấy vòng ốc và y phục bản xứ choàng lên người tôi theo phong tục địa phương. Thầy Georges, người đã tìm tôi ở Roma, tình nguyện chở tôi đi thăm Nhà thờ Chính Tòa và Tòa Tổng Giám Mục… Đức TGM Michel-Marie-Bernard Calvet năm nay 71 tuổi, thuộc Dòng Maristes, là người cởi mở và hiếu khách. Ngài làm linh mục năm 29 tuổi, làm giám mục phụ tá năm 35 tuổi và làm tổng giám mục năm 37 tuổi, cho biết Tổng Giáo phận có hai giáo phận trực thuộc là Wallis-et-Futuna và Port-Vila, là hai quần đảo nằm ở phía Đông. Việc truyền giáo tại giáo phận từ khởi đầu cho đến ngày nay chủ yếu do các thừa sai Dòng Maristes. Tổng Giáo phận hiện có 31 giáo xứ và khoảng hơn 50 nhà thờ lớn nhỏ, với số nhân danh khoảng 140 nghìn, tức là chiếm hơn một nửa số dân của đảo quốc. Trong khi đó già trẻ chỉ có 10 linh mục triều, 17 linh mục Dòng Maristes, 6 linh mục đến từ các đơn vị khác. Vì ít linh mục và nhiều đảo xa xôi, cho nên một số nơi 2 tháng mới có lễ một lần. Trong số 10 linh mục triều, có cha Jean Patrick là người lai Việtvà có cha Phêrô Ngô Quang Quý, là thuyền nhân đến đây năm 1975. Đức TGM Calvet có vẻ rất tự hào vì đã nhận cha Quý vào Chủng viện của TGP, đã đào tạo và truyền chức cho ngài và nay lại là người tích cực cộng tác với ngài trong tư cách Chưởng ấn của TGP và Chính xứ một giáo xứ lớn tại thủ phủ Nouméa. TGP cũng có 2 chủng sinh thuộc dòng Maristes, đang học tại Fiji và hơn 20 chục thầy thuộc các hội dòng Thánh Tâm, La San, Maristes và khoảng gần 100 nữ tu thuộc Dòng Thánh Giuse Cluny, Dòng Tiểu muội của Đức Mẹ Maria và Dòng Thừa sai của Đức Mẹ Maria. Ơn gọi tu sĩ cũng rất hiếm nên phần lớn các thầy các soeurs đều thuộc dạng lớn tuổi và các nhà dòng đang thu hẹp dần quy mô hiện diện và hoạt động…
Đức TGM Calvet và thầy Georges Bénigaud tại Tòa TGM tháng 5 năm 2015
Đón tiếp khách từ xa đến theo phong tục địa phương. Tân Đảo 2015
Cha Giuse Nguyễn Năng Vịnh và cha Giuse Nguyễn Duy Tôn
Trung tâm Công giáo Việt Nam tại Nouméa
5. Ông Jean Lemaire, vị hiệu trưởng đầu tiên của Trường Trung học Công giáo của Tổng Giáo phận, nay đã về hưu, tình nguyện đưa tôi đi thăm Noumea và vùng phụ cận. Ông quả là một thổ địa của Nouméa và là một hướng dẫn viên du lịch tuyệt vời, biết phải đưa khách đến nơi nào và biết chọn điểm nhìn tốt nhất cho từng danh lam thắng cảnh. Sau khi đi thăm thành phố, ông đưa tôi đến thăm nhà thờ Việt Nam và thăm mấy gia đình Công giáo Việt Nam. Qua các câu chuyện xưa nay và nhờ tập sách mỏng về lịch sử cộng đoàn Công giáo Việt Nam do cha Ngô Quang Quý tặng, tôi được biết đại khái rằng thời trước năm 1954, người Việt Công giáo ở Tân Đảo tự tổ chức sống đạo với nhau theo tập tục mang theo từ Miền Bắc. Khi ấy các ông bà kết hôn với nhau không có phép cưới; con cái sinh ra họ tự rửa tội và tự dạy đạo theo kiểu truyền khẩu, nhờ vậy các bác nay còn thuộc nhiều kinh bổn, kể các các kinh cầu khó thuộc như kinh cầu chịu nạn, kinh cầu trái tim Đức Chúa Giêsu. Mãi đến năm 1954 mới có cha từ Việt Nam sang giúp đỡ giáo dân sống đạo. Số là vào năm 1953, Đức cha Phạm Ngọc Chi, Giám mục Bùi Chu, gửi cha Giuse Nguyễn Năng Vịnh sang giúp nhóm người Việt Công giáo đang làm việc ở Port-Vila, Vanuatu, cách Tân Đảo khoảng 500 km về phía Đông. Trên đường đến Vanuatu, ngài ghé qua Nouméa, thủ phủ của Tân Đảo. Chứng kiến tình cảnh khốn khổ hồn xác của người Việt Công giáo đang lưu lạc ở đây, ngài đã gợi ý Đức Giám Mục tại Nouméa xin một linh mục Việt Nam đến đây giúp họ và cha Giuse Nguyễn Duy Tôn đã tới Tân Đảo năm 1954 theo đề nghị này. Cộng đồng Công giáo Việt Nam khi ấy đã xây dựng một ngôi thánh đường khá khang trang tại khu vực thủ phủ Nouméa và ngôi thánh đường đó được tái thiết năm 1978 và vẫn tồn tại cho đến nay, trở thành Trung tâm Công giáo Việt Nam. Nghe một số ông bà trong Hội đồng Mục vụ nói rằng hiện nay một tháng hai lần cha xứ người Pháp vẫn dâng lễ cho cộng đoàn. Ngài xướng bằng tiếng Pháp và giáo dân, dù nói được tiếng Pháp, vẫn thưa đáp bằng tiếng Việt. Dịp Giáng Sinh và Phục Sinh cộng đoàn thường mời một cha Việt Nam từ bên Úc Đại Lợi qua làm lễ riêng cho người Việt. Xem chương trình Tuần Thánh năm 2015 còn dán ở ở nhà thờ, tôi thấy cái cách họ sống đạo đúng như các xứ đạo cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ vậy.
Ông Jean Lemaire và hai ông trong Hội Ái hữu Việt Nam. Tân Đảo 2015
Cổng vào Trung tâm Ái hữu Việt Nam. Bên phải là sân thể thao của Trung tâm.
6. Nơi sau cùng ông Jean Lemaire, đưa tôi đến là cơ sở của Hội Ái hữu Việt Nam, nằm trong một khu đất khá rộng, nhìn ra đường phố và dựa lưng vào núi. Hội đã dựng được một Ngôi nhà Sinh hoạt khá khang trang, có cả nhà kho, nhà bếp, nhà ăn, nhà ở, bãi để xe, sân tennis và sân bóng đá. Các cộng đồng người Việt ở Bắc Mỹ và Châu Âu cũng không có được cơ sở tốt như vậy. Những hình ảnh và thông tin trưng bày tại Trung tâm cho thấy Hội Ái hữu có vẻ có những sinh hoạt hiệu quả, thu hút được nhiều người tham gia. Lúc chúng tôi đến, các ông bà trong Ban Điều hành, đang trang trí hội trường và đặt bàn ăn chuẩn bị cho bữa dạ tiệc và dạ vũ tối thứ bẩy tuần đó để lấy tiền giúp dân Vanuatu, trong đó có người Việt Nam, mới bị siêu bão càn quét, tàn phá hồi giữa tháng 3 vừa rồi. Ông Chủ tịch cho biết Hội đang giúp những đồng hương người Việt muốn đón thân nhân từ Việt Nam sang thăm Tân Đảo. Hội cử hẳn một đại diện về Việt Nam để liên lạc với Tòa Đại sứ Pháp và hướng dẫn thủ tục cho những thân nhân được mời. Tôi thấy hầu hết người Việt hiện nay ở Tân Đảo đều sinh ra và lớn lên ở đây, trong khi tổ tiên họ đã rời quê hương từ thời thuộc Pháp, nên họ không có lập trường quốc gia hay cộng sản gì; tuy nhiên, trong hành trình tìm về cội nguồnhiện nay, họ có liên lạc và tỏ ra thân thiện với nhà nước cộng sản và cái tên “Ái hữu” cũng đủ cho thấy họ phần nào ảnh hưởng cộng sản trong cách dùng từ ngữ. Ông Chủ tịch Hội có vẻ rất tự hào vì việc Đài truyền hình Việt Nam đã làm và đã phát trên kênh TV 4, một phim tài liệu về người Việt ở Tân Đảo. Tôi cũng xin nói thêm, ngay cổng vào Trung tâm Ái hữu có một ngôi chùa Việt mang tên là Nam Hải Phổ Đà, cổng khóa kín mít và nội tự hoang vắng; một phật tử cao niên và hiểu biết ở đây cho tôi biết rằng trước đây có một nhà sư từ Việt Nam qua trụ trì, nhưng vì phật tử đã ít lại chia rẽ và chống đối nhau, nên nhà sư đã bỏ về lại Việt Nam.
Trung tâm sinh hoạt của Ái hữu Việt Nam. Tân Đảo 2015
7. Trưa thứ bẩy, tôi về lại Úc Đại Lợi. Thầy Georges, hai bác và ba chị tiễn tôi ra phi trường. Khi tôi đã qua cửa kiểm tra an ninh mọi người vẫn còn đứng vẫy tay theo. Lưu luyến đúng kiểu Việt Nam. Trên chuyến bay vắng vẻ, lòng tôi buồn vui lẫn lộn. Nhóm người Việt nhỏ bé lưu lạc và sót lại ở Tân Đảo này không phải là tầng lớp tinh hoa của dân tộc Việt; không có trình độ văn hóa, văn minh cao và không thành công nhanh chóng và to lớn như người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản từ 1975 tại Úc Đại Lợi, Tây Âu và Bắc Mỹ. Mặc dù vậy, họ cũng không bị mang tiếng xấu là gian tham, trộm cắp, lười biếng, buôn lậu, buôn ma túy, buôn người như nhiều người Việt theo cộng sản hoặc ảnh hưởng cộng sản mới đi ra ngoại quốc trong những thập niên gần đây. Dù gốc gác chỉ là những người dân quê chất phác, nhưng khi đến mảnh đất tự do này, từ thân phận là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội, nhờ những đức tính tốt đẹp của người Việt truyền thống, người Việt ở Tân Đảođã từng bước cố gắng vươn lên, làm nên hình ảnh một cộng đồng hiền lành, cần cù, chịu khó, thật thà, lương thiện. Họ đã thành công và đã giành được cảm tình của chính quyền cũng như sự ngưỡng mộ và cả chút ganh tỵ của cư dân trên đảo này. Họ đang làm vẻ vang dân tộc Việt. Dù ít ỏi nhưng họ luôn tự hào là người Việt và thể hiện những giá trị tốt đẹp của người Việt thời xưa còn sót lại. Tôi nghĩ họ may mắn vì đã không phải sống trong chế độ cộng sản và không bị họa cộng sản làm cho tha hóa như phần lớn những người đồng hương của họ sinh ra và lớn lên ở đất Mẹ Việt Nam trên dưới nửa thế kỷ qua. Chiêm ngưỡng cuộc sống của họ ở đảo này, tôi nghĩ rằng giả như tà thuyết cộng sản không du nhập Việt Nam và Việt Nam không bị chế độ cộng sản thống trị, thì người Việt trong nước tối thiểu cũng đã có cơ may hạnh phúc và thành công như người Việt ở Tân Đảo này và trong con mắt của cộng đồng quốc tế, tối thiểu người Việt cũng có những đóng góp tích cực và nhận được sự tôn trọng của các dân nước khác như cộng đồng người Việt ở Tân Đảo này. Sau cùng điều làm tôi cảm động và khâm phục người Việt ở đây nhất, ấy là dù chỉ là một nhóm dân nhỏ bé, xa cách đất mẹ đã lâu, nhưng họ vẫn không ngừng ý thức bản sắc dân tộc và tôn giáo của mình, tìm cách bảo tồn và xây dựng những giá trị Việt của mình giữa giữa các sắc dân đông tây khác đang sống nơi đây. Điều ấy thể hiện ngay trong số những anh chị em họ của tôi. Khi vừa về đến Roma, anh chị Darto-Toethi Van, tuổi gần 60, đã gửi email cho tôi những tấm hình cũ của họ hàng và xin tôi nói cho họ biết tên tuổi và tương quan từng người trong dòng họ. Anh chị cũng ước mong tôi có thể thăm Tân Đảo lâu hơn để có nói với họ về truyền thống và về gia đình dòng họ. Cái ước mong của anh chị và cũng là của nhiều người Việt ở đây cho tôi tin tưởng rằng tương lai của cộng đồng người Việt nhỏ bé này có thể sẽ sáng hơn một khi họ còn biết ý thức và tìm về cội nguồn của mình như vậy./.
Tân Đảo 2015. Vịnh và một góc thànnh phố Nouméa, Thủ phủ của Tân Đảo