CHÂN THIỆN MỸ MẾN CHÀO CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM

Thứ Năm, ngày 18 tháng 9 năm 2014

Biết điều chính yếu và điều phụ thuộc.



Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Thứ Năm Tuần 24 TN2

Bài đọc: I Cor 15:1-11; Lk 7:36-50.

1/ Bài đọc I: Sự kiện Phục Sinh

Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích.
Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.
Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.
Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy.

2/ Phúc Âm: Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.
Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi! " Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: "Này ông Si-môn, tôi có điều muốn nói với ông!" Ông ấy thưa: "Dạ, xin Thầy cứ nói." Đức Giê-su nói: "Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn? " Ông Si-môn đáp: "Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn." Đức Giê-su bảo: "Ông xét đúng lắm."
Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-môn: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít." Rồi Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi." Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: "Ông này là ai mà lại tha được tội? " Nhưng Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an."

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Biết điều chính yếu và điều phụ thuộc.

Con người dễ lẫn lộn giữa những cái chính yếu và cái phụ thuộc. Bổn phận của người rao giảng là phải nhận ra đâu là điều chính và đâu là điều phụ trước khi loan truyền cho người nghe. Trong Bài đọc I, thánh Phaolô chỉ cho các tín hữu của ngài về sự quan trọng và những điều chính yếu của Tin Mừng. Bài Phúc Âm tường thuật hai cách đón tiếp Chúa Giêsu của Simon, người Pharisee, và của người đàn bà tội lỗi.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Thánh Phaolô muốn tổng kết tất cả những gì ngài muốn viết cho các tín hữu Côrintô sau khi đã giảng dạy chi tiết từng vấn đề. Trọng tâm của những gì ngài rao giảng là Tin Mừng đã được truyền lại cho ngài từ chính Chúa và ngài truyền lại cho họ.

1.1/ Sự quan trọng và cần thiết của Tin Mừng:
(1) Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận: Không ai tự phát minh ra Tin Mừng, nhưng tất cả đều lãnh nhận Tin Mừng. Và cũng không ai được tự động loan báo nếu không được ủy thác để rao giảng Tin Mừng.
(2) Trong Tin Mừng đó anh em đang đứng vững: Điều lợi ích đầu tiên của Tin Mừng là giúp người nghe được đứng vững trên hai chân. Sống trong thế gian với bao nhiêu những học thuyết khác nhau làm con người hoang mang không biết đâu là đạo lý thật, Tin Mừng giúp các tín hữu nhận ra đâu là Sự Thật phải theo.
(3) Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát: Đức tin phải đi đôi với hành động. Thánh Phaolô nhấn mạnh tới việc thực hành đức tin để được ơn cứu độ: “Nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích.”

1.2/ Trọng tâm của Tin Mừng: Thánh Phaolô liệt kê 3 điều chính yếu của Tin Mừng đòi hỏi các tín hữu phải tin:
(1) Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh.
(2) Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.
(3) Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.

1.3/ Vai trò của người rao giảng: Dẫu mỗi người giữ một vai trò khác nhau nhưng tất cả đều rao giảng cùng một Tin Mừng.
- Vai trò của Phaolô: Ngài thú nhận rõ ràng trên đây ngài không phải là một trong Nhóm Mười Hai, nhưng cũng là Tông Đồ Dân Ngọai vì được sai đi bởi chính Chúa. Ngài cũng thú nhận luôn quá khứ không tốt đẹp của Ngài và làm nổi bật ơn Chúa tác động trên ngài: “Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.”
- Vai trò của các vị khác: Phaolô tôn trọng vai trò của Phêrô trong việc điều khiển Giáo Hội và cùng với các Tông Đồ khác rao giảng Tin Mừng cho người Do-Thái. Mỗi người một công việc khác nhau nhưng cùng góp phần trong việc rao giảng một Tin Mừng. Ngài kết luận: “Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy.”

2/ Phúc Âm: Ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều, ai được tha ít thì yêu mến ít.

Chúng ta thử nhìn sơ qua thái độ của 3 nhân vật chính trong Phúc Âm hôm nay. Trước tiên là của ông Simon. Việc ông mời Chúa đến nhà dùng bữa là hiếm có vì ông là người Pharisee, những người mà thường hay chỉ trích Chúa về cách cư xử của Ngài. Phúc Âm không cho biết lý do tại sao ông mời Chúa đến nhà; nhưng chắc ông ngạc nhiên về sự hiện diện của người phụ nữ nơi bàn tiệc. Thứ đến, là người phụ nữ can đảm. Bà biết cuộc đời tội lỗi của Bà, Bà cũng biết những người trong thành biết Bà là ai, Bà phải biết Chúa Giêsu là ai để có thể can đảm bày tỏ lòng ăn năn thống hối của mình mà không sợ bị từ chối đuổi đi. Sau cùng là của Chúa Giêsu. Ngài để cho người phụ nữ làm tất cả những điều đó dưới cái nhìn soi mói của tất cả khách dự tiệc và thẳng thắn bênh vực người phụ nữ.

Dưới cái nhìn của chủ nhà, Chúa Giêsu đã trở nên ô uế vì đã để cho người phụ nữ tội lỗi chạm vào. Ông cũng tự hỏi về uy quyền của Chúa: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!" Chúa thấu suốt tâm hồn ông và Ngài hết sức tế nhị đưa ra một ví dụ về hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Người đọc dễ dàng nhận ra Chúa đang nhắc khéo cả ông Simon và người phụ nữ đều là những tội nhân trước mặt Chúa, và cả hai đều cần đến tình thương tha thứ của Chúa. Tội của người phụ nữ đã rõ ràng, tội của ông Simon là tội kiêu ngạo, tự cho mình là công chính và có quyền xét đóan người khác. Câu hỏi của Chúa cho ông Simon cho thấy Ngài muốn nhấn mạnh đến tình yêu chứ không đến tội lỗi của người được tha: Ai được tha nhiều thì sẽ yêu mến nhiều hơn.

Chúa Giêsu so sánh cách đón tiếp của ông Simon và của người phụ nữ: Chúa là thượng khách của ông Simon, thế mà cách đón tiếp của ông đã chứng minh ông đã không đón tiếp Chúa như một thượng khách. Trong khi người phụ nữ chỉ là người qua đường mà đã dành cho Chúa một cách đón tiếp chưa từng thấy trong lịch sử con người: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít." Và để thưởng công cho hành động can đảm đầy yêu thương của người phụ nữ, Đức Giêsu trấn an chị: "Tội của chị đã được tha rồi. Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an."

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Nếu chúng ta không nắm vững những điều chính yếu, chúng ta sẽ dễ dàng bị hoang mang trước bao nhiêu học thuyết của người đời. Để có thể thắng vượt những hoang mang, hiểu biết Tin Mừng là điều không thể thiếu để chúng ta có thể đứng vững trên hai chân. Người rao giảng có thể có những cách giảng khác nhau, nhưng phải rao giảng cùng một Tin Mừng.
- Khi mời Chúa vào nhà, chúng ta phải chuẩn bị để đón tiếp Chúa cách xứng đáng. Một trong những chuẩn bị đầu tiên là thái độ khiêm nhường nhận ra mình hèn hạ trước tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Cách bất xứng để đón Chúa là thái độ kiêu hãnh và xét đóan người khác như ông Simon hôm nay.


Thứ Tư, ngày 17 tháng 9 năm 2014

Xin giúp con biết xây dựng hơn là đả phá, chỉ trích



Khi Gioan Tẩy Giả đến, thì các ngươi bảo: 'Người bị quỷ ám'. Khi Con Người đến, thì các ngươi lại nói: 'Kìa bạn bè với phường tội lỗi'. ( Lc 7,33-34)


Lạy Chúa Giê-su, với lòng mến chân thành, xin giúp con biết xây dựng hơn là đả phá, chỉ trích Cộng đoàn, Giáo xứ, Hội Thánh… Xin giúp con trở nên thành phần tích cực vào cuộc hơn là đứng ngoài để khen chê mà không động đến móng tay. Amen.

Sự quan trọng của đức mến.


Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP


Thứ Tư Tuần 24 TN2
  
Bài đọc: I Cor 12:31-13:13; Lk 7:31-35.

1/ Bài đọc I: Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả. Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.
Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn. Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.

2/ Phúc Âm: Vậy tôi phải ví người thế hệ này với ai? Họ giống ai? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói: "Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than.
Thật vậy, ông Gio-an Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo: "Ông ta bị quỷ ám.” Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo: "Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.” Nhưng Đức Khôn Ngoan đã được tất cả con cái mình biện minh cho.


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự quan trọng của đức mến.

Tình yêu là một đề tài vô tận của các văn sĩ, thi sĩ. Các tuyệt tác có được là nhờ những cảm hứng đến từ nguồn tình yêu của Thiên Chúa, tổ quốc, cha mẹ, anh chị em, và tha nhân. Chương 13 trong Thư thánh Phaolô gởi cho các tín hữu Corintô là một chương phân tích tuyệt vời về tình yêu. Ngược lại, khi con người không có tình yêu, tất cả sẽ trở nên vô nghĩa và ngay cả trở thành hỏa ngục như triết gia hiện sinh J.P. Sartre nhân định: “Con người là hỏa ngục cho nhau.” Một tìm hiểu chi tiết về các Bài đọc hôm nay sẽ giúp chúng ta nhận ra giá trị quan trọng của tình yêu và mong muốn tập luyện để có được tình yêu. Khi có được tình yêu, chúng ta sẽ dễ dàng tránh khỏi những tật xấu như các Biệt-phái và Kinh-sư mà Chúa Giêsu trách hôm nay.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Đức mến thì cao trọng hơn cả.

1.1/ Sự quan trọng của đức mến: Biết con người có khuynh hướng tìm những gì cao trọng nhất, thánh Phaolô khuyên: “Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.” Con đường này là con đường yêu mến mà thánh Thêrêxa Hài Đồng cũng xác nhận: “Ơn gọi của con là Yêu.” Có nhiều nghĩa của chữ “yêu,” nhưng thánh Phaolô dùng chữ “đức mến” để nói lên tình yêu trong khuôn khổ của Kitô Giáo. Ngài so sánh sự quan trọng của “đức mến” với một số ơn cao trọng khác:
- Với ơn nói tiếng lạ: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì” Biết các thứ tiếng là một chuyện nhưng biết dùng những thứ tiếng đó để mưu ích cho tha nhân là chuyện khác. Nếu không biết dùng ơn nói tiếng lạ thì có khác gì chiếc “thùng rỗng kêu to” hay nói như thánh Phaolô: “thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.” 
- Với ơn nói tiên tri, ơn hiểu biết, và ơn đức tin: “Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.” Tiên tri là nói thay cho Chúa để hướng dẫn và đem con người về với Chúa. Có những tiên tri ghét người đến độ không muốn kẻ thù trở về để được cứu (trường hợp của tiên tri Jonah). Điều nguy hiểm thường thấy nơi những người học cao hiểu rộng là tính tự kiêu, cho mình là hơn người và khinh thường tất cả những người khác. Rất nhiều người hiểu biết đã từ chối Thiên Chúa! Người có một đức tin mạnh cũng thế, họ nghĩ ai cũng phải có một đức tin mạnh như họ và bắt mọi người cũng phải làm những việc như họ làm; nhưng họ quên để có một đức tin như thế, họ đã phải dùng nhiều thời gian và trải qua biết bao sa ngã! 
- Với những việc bác ái và anh hùng: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” Việc tốt lành thôi cũng chưa đủ, cần có những ý hướng tốt lành nữa. Có những người đem cho hết gia tài chỉ để mua danh tiếng, chứ không cho vì thương người. Có những người tìm tử đạo để giải thóat cuộc đời đau khổ của mình chứ không để làm chứng nhân cho Chúa.

1.2/ Định nghĩa về đức mến: 
- Đức mến thì nhẫn nhục và nhân hậu: Tiếng Hy-Lạp có hai phân từ dùng cho kiên nhẫn: kiên nhẫn đợi cơ may tới và kiên nhẫn với con người. Phân từ kiên nhẫn (makrothumein) xử dụng bởi các thánh ký trong Tân-Ước luôn hàm chứa sự kiên nhẫn với con người. Thánh John Chrysostom cắt nghĩa: Phân từ này được dùng cho người bị đối xử cách sai trái; tuy ông có quyền và có cơ hội để trả thù nhưng đã không làm. Trái lại, ông muốn tự người đó nhận ra sự sai trái của họ bằng những việc tốt lành ông làm cho họ.
Chúa Giêsu cũng đã từng dạy các môn đệ hãy có sự kiên nhẫn này qua việc yêu thương và làm ơn cho kẻ thù, cầu nguyện cho những người bắt bớ… để có thể trở nên hòan thiện như Cha trên trời. Kiên nhẫn như thế không phải là yếu đuối nhưng là sức mạnh, không phải là thua cuộc nhưng là cách tốt nhất để chinh phục kẻ thù. Lịch sử có nhiều người đã dùng cách thức này và không ai dùng cách hiệu quả hơn Chúa Giêsu trên Thập Giá. Nhiều người Công Giáo có đức tin vững mạnh và cuộc đời liêm chính nhưng chưa đủ để chinh phục người khác về cho Chúa vì thiếu tính thương người. Họ dễ dàng đứng về phía kẻ mạnh để áp bức người cô thân cô thế. 
- Đức mến không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc: Người đời thường nói: “Chỉ có hai hạng người trên thế gian: triệu phú và muốn thành triệu phú.” Có hai lọai ghen tương: vì ham muốn tài sản của người khác và vì muốn họ phải mất những gì họ đang có. Lọai ghen tương thứ nhất có thể hiểu vì là tính con người. Lọai ghen tương thứ hai là do bởi sự xui dục của ma quỉ: muốn tha nhân phải chịu đau khổ để mình được thỏa mãn. Ví dụ: một học sinh muốn được điểm A như những học sinh giỏi là điều thông thường; nhưng lại muốn khi mình được điểm A thì các học sinh khác phải không được A như mình! Có những người khi có những gì người khác không có hay được quyền cao chức trọng thì kiêu hãnh tự đắc, coi mình như cái rốn của vũ trụ. Họ khoe khoang để mọi người được biết, bắt người khác phải quỵ lụy mình, và khinh thường tha nhân. Các Kinh-sư và Biệt-phái trong Phúc Âm là những tiêu biểu cho mẫu người này. 
- Đức mến không cư xử bất xứng (làm điều bất chính), không tìm tư lợi: Trong tiếng Hy-Lạp, từ cư xử bất xứng (avschmone,w) có hai nghĩa: (1) một hành động ngược lại với những tiêu chuẩn luân lý như lối sống vô luân (1 Cor 7:36); (2) một hành động ngược lại với những tiêu chuẩn xã hội như cách cư xử vô lễ, bất lịch sự, hay không đúng phép xã giao (1 Cor 13:5). Ở đây, thánh Phaolô có lẽ nhấn mạnh vào nghĩa thứ hai hơn. Nhiều người cũng nhận xét có hai lọai người trên thế gian: một lọai chỉ tìm lợi lộc cá nhân, luôn đòi được hưởng đặc quyền và một lọai chỉ để ý đến bổn phận phải đóng góp để tiếp tục phát triển. Để xây dựng xã quốc gia, có người đã đề nghị: Đừng đòi hỏi quốc gia phải làm gì cho bạn, nhưng hãy tự hỏi bạn có thể làm gì để xây dựng quốc gia. Cũng thế, để xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, chúng ta đừng đòi hỏi Giáo Hội phải làm gì cho mình, nhưng hãy tự hỏi mình có thể làm gì để xây dựng Giáo Hội. 
- Đức mến không nóng giận, không nuôi hận thù: Nóng giận là không làm chủ được con người mình, là thiếu kiên nhẫn. Nóng giận có thể vi phạm trầm trọng đức mến trong lời nói cũng như trong hành động. Bác ái thì xây dựng trong khi nóng giận có thể phá hủy tất cả những gì mà mình và người khác đã xây dựng lâu năm. Động từ “nuôi” trong tiếng Hy-Lạp là động từ dùng trong lãnh vực kế tóan (logizeshthai): phải vào sổ sách tất cả để đừng quên sót. Một trong những nghệ thuật sống là học để quên, nhưng nhiều người luôn nhớ rành mạch tất cả những gì xấu người khác đã đối xử với mình. Có những cha mẹ khi đánh con là đánh và kể luôn tất cả mọi tội con đã phạm từ khi bắt đầu bị đánh tới giờ! Nhớ tất cả các tội của người khác là cách hiệu quả nhất để giết chính mình và giết tha nhân. 
- Đức mến không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật: Nhiều người lại có khuynh hướng ngược lại: mừng khi thấy điều dữ xảy ra cho người mình không thích và không vui khi thấy họ được mọi sự lành bằng an. Khi đọc, nghe, hay xem tin tức trên các phương tiện truyền thông, nếu không thấy những điều dữ xảy ra là kết luận tin tức hôm nay chẳng có gì đặc biệt cả. Các con buôn muốn bão cấp 2 sẽ trở thành bão cấp 5 để có thể kiếm lời bằng cách tăng giá những gì dân chúng cần, vì họ biết bão sẽ chẳng làm thiệt hại gì đến họ. 
- Đức mến che chở tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, và chịu đựng tất cả: Động từ “che chở” được dịch từ tiếng Hy-Lạp “ste,gw” đến từ danh từ “ste,gh” có nghĩa là mái nhà. Động từ được dùng cho việc lợp mái nhà để giữ những người trong nhà khỏi mưa nắng. Có lẽ thánh Phaolô muốn dùng từ này ở đây để nói lên rằng một khi có đức mến, con người có thể tìm mọi cách để che chở khuyết điểm của tha nhân, không để tội lỗi họ bị phơi bày ra cho người khác thấy. Tin tưởng tất cả có hai chiều kích: Trước tiên, tin tưởng nơi Thiên Chúa là Đấng có thể làm được mọi sự. Sau đó, tin tưởng nơi tha nhân có khuynh hướng tôn trọng Sự Thật, yêu những gì tốt lành, và quí mến mọi sự tốt đẹp. Với niềm tin như thế, con người có quyền hy vọng những gì họ mong đợi sẽ đến và sẽ không ngần ngại kiên trì hy sinh chịu đựng đau khổ để tha nhân được sống. Như những nhà nông, người có đức mến sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm được, chịu dầm mưa giãi nắng; sau đó, họ đặt trọn niềm tin tưởng vào Trời sẽ ban cho một mùa gặt tốt đẹp.

1.3/ Tại sao đức mến quan trọng? Thánh Phaolô trả lời bằng cách so sánh đức mến với các ơn gọi khác về tính thời gian, sự hòan hảo, và sự cao trọng tuyệt đối. Sau khi so sánh, Ngài kết luận: “Đức mến không bao giờ mất được.” 
- Về tính thời gian: Ơn nói tiên tri cũng chỉ nhất thời. Khi Chúa cần phải sửa dạy dân chúng, Ngài sẽ dùng các tiên tri. Nhưng khi những gì Chúa muốn đã đạt được, Ngài không cần đến vị tiên tri đó nữa. Ơn nói các tiếng lạ cũng có ngày sẽ hết như ơn tiên tri. Khi về trời, hoặc tất cả chỉ xử dụng một ngôn ngữ hoặc tất cả sẽ được Chúa ban ơn để hiểu mọi thứ tiếng. 
- Về sự hiểu biết: Ơn hiểu biết cũng chỉ nhất thời và giới hạn vì sự hiểu biết thì có ngần; khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Thánh Phaolô dùng hai hình ảnh để dẫn chứng sự bất tòan của ơn hiểu biết:

* So sánh sự hiểu biết của trẻ con và của người trưởng thành: Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. Sự hiểu biết ở thế gian này cũng bất tòan như sự hiểu biết của con trẻ; một khi đã về hưởng hạnh phúc với Chúa thì sự hiểu biết sẽ hòan hảo như sự hiểu biết của người đã trưởng thành.
* So sánh sự hiểu biết qua gương và qua người thật: Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được gặp Thiên Chúa mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi.

- Về sự tòan hảo: Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. Đức tin cần thiết khi chưa gặp được Chúa; một khi đã gặp được Ngài, đức tin sẽ không cần thiết nữa. Đức cậy là hy vọng những gì mình chưa có; một khi đã có rồi, đức cậy cũng sẽ không cần thiết. Chỉ có đức mến là tồn tại, một khi đã yêu rồi thì cứ tiếp tục yêu; nồng độ của tình yêu sẽ thắm thiết hơn và hòan hảo hơn.

2/ Phúc Âm: Thói quen phê bình, chỉ trích

Một trong những đặc tính của trẻ là chúng sống theo cảm xúc nhất thời: khi nào muốn ăn là ăn, muốn chơi là chơi. Chúng không cần biết những ước muốn của chúng có hợp lý không cho tới khi bị cha mẹ ngăn cấm và tập cho chúng biết sống kỷ luật. Nếu không được cha mẹ tập để sống theo kỷ luật, đứa trẻ sẽ tiếp tục những thói quen đó dầu chúng đã trở thành người lớn. Chúa Giêsu ví các Kinh-sư và Biệt-phái như những đứa trẻ này vì họ không chịu sống theo đường lối của Thiên Chúa đã họach định mà cứ ngoan cố sống theo sở thích mình: “Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói: "Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than.”

Vì các Kinh-sư và Biệt-phái lấy mình làm tiêu chuẩn để phê bình người khác nên họ không thỏa mãn với bất cứ ai có lối sống khác họ. Họ phê bình Gioan Tẩy Giả là bị quỷ ám vì ông không ăn bánh, không uống rượu như họ. Khi Chúa Giêsu đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì họ lại bảo: "Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.”

Tuy vậy, kế họach của Thiên Chúa không vì họ mà phải thay đổi vì vẫn có những người sống theo Đức Khôn ngoan chỉ dẫn. Vẫn có những người nghe theo lời giảng của Gioan Tẩy Giả, bỏ đường tội lỗi, và quay trở về với Chúa. Những người này sẽ là bằng chứng hùng hồn cho sự khôn ngoan và kế họach của Thiên Chúa. Các Kinh-sư và Biệt-phái có thể làm trở ngại, nhưng không thể thắng vuợt được Đức Khôn Ngoan của Ngài.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Đức mến có thể ví như máu lưu thông trong cơ thể. Máu cần cho sự sống không phải chỉ cho thân thể mà còn tất cả các chi thể. Chi thể nào mà máu không vận chuyển tới sẽ bị đau và nếu không được chữa trị kịp thời sẽ chết. Cũng vậy, tình yêu là động lực cho tất cả mọi hành động của con người: vì yêu Chúa và yêu tha nhân, con người dám hy sinh chịu đựng đau khổ để tòan Thân Thể của Chúa Kitô được lành mạnh. Không có tình yêu mọi công việc sẽ bị đình trệ và dần dần tắt hẳn và cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa. Như lời Thánh Thêrêxa Hài Đồng nói: “Không có tình yêu Giáo Hội sẽ không còn và máu tử đạo cũng sẽ hết.” 
- Khi thiếu vắng tình yêu, con người sẽ trở nên cau có, gắt gỏng, khó chịu. Họ sẽ không hài lòng về bất cứ những gì xảy ra, và sẽ luôn tìm những điều xấu của tha nhân để có lý do phê bình. Ngược lại, một khi được ở trong tình yêu, con người sẽ dễ dàng thông cảm và tha thứ mọi khuyết điểm của tha nhân, đúng như lời ca dao Việt-Nam: 
Yêu nhau yêu cả đường đi - Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng.
Yêu nhau biết mấy cho vừa - Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.


8 CÂU NÓI TUYỆT VỜI NHẤT TRÊN THẾ GIỚI





1. “Đừng bao giờ đùa giỡn với cảm xúc của người khác, bởi vì bạn có thể giành chiến thắng, nhưng hậu quả là bạn chắc chắn sẽ mất đi người đó trong suốt cuộc đời của bạn.” – (Shakespeare).
2. “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là vì sự im lặng của những người tốt”.
3. “Tôi rất biết ơn tất cả những người đã nói KHÔNG với tôi. Nhờ vậy mà tôi biết cách tự mình giải quyết sự việc.” – (Einstein).
4. “Nếu tình bạn là điểm yếu lớn nhất của bạn, thì bạn chính là người mạnh mẽ nhất trên thế giới.” – (Abraham Lincoln).
5. “Một người tươi cười không có nghĩa là họ không có nỗi buồn. Điều đó có nghĩa là họ có khả năng đối phó với nỗi buồn đó.” – (Shakespeare).
6. “Cơ hội giống như bình minh, nếu bạn chờ đợi quá lâu, bạn có thể bỏ lỡ nó”. – (William Arthur).
7. “Khi bạn ở ngoài sáng, tất cả mọi thứ đều theo bạn, nhưng khi bạn bước vào bóng tối, ngay cả cái bóng của bạn cũng không đi theo bạn nữa.”
8. “Đồng tiền luôn phát ra âm thanh. Nhưng tờ tiền thì luôn im lặng. Vì vậy, khi giá trị của bạn tăng lên, thì hãy luôn luôn giữ yên lặng.” – - (Shakespeare).


Chuyến Bay Delta 15: Câu Chuyện Đẹp Quanh Biến Cố 9/11





Chuyến Bay Delta 15: Câu Chuyện Đẹp Quanh Biến Cố 9/11
Viết bởi Jerry Brown (tiếp viên phi hành chuyến bay Delta 15) Tulip chuyển ngữ on 11 Tháng 9 2014.
Hành khách và phi hành đoàn trên chuyến bay Delta 15 chụp ảnh lưu niệm tại phi trường Gander
Đã gần 12 năm trôi qua kể từ biến cố 9/11. Vào một buổi sáng Thứ Ba, ngày 11 Tháng Chín năm 2001, chúng tôi đã rời khỏi Phi Trường Quốc Tế Frankfurt (Đức Quốc) khoảng 5 tiếng đồng hồ và đang bay qua Bắc Đại Tây Dương. Thình lình, tấm màn ngăn cách giữa buồng lái với khoang tàu hành khách vén lên, lập tức tôi được gọi vào buồng lái gặp phi công trưởng.

Vừa bước vào buồng lái, tôi để ý nhận thấy ngay mức độ nghiêm trọng biểu lộ trên khuôn mặt mọi người. Phi công trưởng đưa cho tôi một bản tin vừa in ra từ văn phòng chính của hãng Hàng Không Delta Atlanta, thông điệp gởi đến chỉ vỏn vẹn câu: “Mọi tuyến không lưu trên lục địa Hoa Kỳ đều bị cấm. Hãy đáp khẩn cấp càng sớm càng tốt xuống phi trường nào gần nhất. Hãy thông báo điểm đáp.”
Không ai nói thêm một lời nào cho tôi biết điều này nghĩa là gì. Chúng tôi biết đây là một tình huống nghiêm trọng mà chúng tôi cần phải tìm đất liền để hạ cánh ngay. Phi công trưởng xác định sân bay gần nhất là phi trường Gander, Newfoundland cách vị trí đang bay 400 dặm. Ông liên lạc với trạm không lưu Canada để xin cho thay đổi đường bay, lập tức được chấp thuận họ không cần hỏi lý do. Tất nhiên sau đó chúng tôi đã hiểu ra lý do tại sao họ chấp thuận không chút do dự.
Trong khi phi hành đoàn chuẩn bị cho máy bay hạ cánh, một tin nhắn đến từ Atlanta báo cho chúng tôi biết có hành động khủng bố trong khu vực New York. Vài phút sau tin cập nhật cho biết có không tặc.
Chúng tôi quyết định NÓI DỐI với hành khách trong khi chúng tôi vẫn còn ở trên không. Chúng tôi nói với họ rằng máy bay gặp một trục trặc nhỏ về cơ khí và cần phải hạ cánh tại sân bay gần nhất ở Gander, Newfoundland để kiểm tra.
Chúng tôi hứa sẽ cung cấp thêm thông tin sau khi hạ cánh ở Gander. Có nhiều hành khách phàn nàn, nhưng điều đó không có gì là lạ. Bốn mươi phút sau, chúng tôi hạ cánh xuống Gander. Giờ địa phương lúc bấy giờ tại Gander là 12:30 PM tức là 11:00 AM New York.
Khi chúng tôi đáp xuống thì đã có khoảng 20 máy bay khác cũng đã đáp xuống, họ đến từ khắp nơi trên thế giới và cũng đã phải chọn lối đi vòng này trên đường đến Hoa Kỳ.
Sau khi chúng tôi đã hạ cánh an toàn trên phi đạo chờ lệnh mới, phi công trưởng thông báo như sau: “Thưa quý vị, chắc quí vị đang thắc mắc rằng phải chăng tất cả các máy bay xung quanh chúng ta cũng đang có vấn đề trục trặc về cơ khí tương tự như chúng ta. Không, thật ra chúng ta đang ở đây vì một lý do khác.” Sau đó, ông tiếp tục giải thích thêm đôi chút cho chúng tôi biết về tình hình tại Hoa Kỳ. Có những tiếng thở hổn hển ồ to lên và những ánh mắt nhìn hoài nghi thảng thốt. Phi công trưởng thông báo cho hành khách biết rằng giới hữu trách của phi trường Gander bảo chúng tôi giữ yên tại chỗ.
Bấy giờ, trách nhiệm và quyền quyết định về tình trạng của chúng tôi tùy thuộc ở chính phủ Canada và lệnh của họ là không ai được ra khỏi máy bay, đồng thời cũng không ai ở dưới đất được phép đến gần bất kỳ phi cơ nào. Chỉ có cảnh sát sân bay cứ lâu lâu lại đến dòm ngó chúng tôi một lúc, sau đó đi qua các máy bay khác. Trong khoảng một giờ đồng hồ kế tiếp, thêm nhiều máy bay hạ cánh và sau cùng Gander tiếp nhận tất cả là 53 máy bay từ khắp nơi trên thế giới, 27 chiếc trong số đó là phi cơ hàng không thương mại của Hoa Kỳ.
Trong khi đó, những tin tức bắt đầu phát ra trên hệ thống âm thanh của phi cơ. Lần đầu tiên chúng tôi được biết các phi cơ bị không tặc đã đâm vào Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới ở New York và vào Ngũ Giác Đài trong vùng Washington, DC. Mọi người cố gắng dùng điện thoại di động của họ, nhưng không thể kết nối vì hệ thống truyền sóng ở Canada khác với Hoa Kỳ. Một số người gọi thông, nhưng chỉ có thể kết nối với tổng đài ở Canada và họ cho biết rằng các làn sóng nối kết vào đất Hoa Kỳ đã bị chặn hoặc bị nghẹt.
Khoảng vào buổi tối trong ngày, tin tức cho chúng tôi biết rằng hai tòa cao ốc Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới đã sụp đổ và chiếc phi cơ thứ tư bị không tặc đã đâm xuống đất. Bấy giờ hành khách đều kiệt sức về thể chất lẫn cảm xúc, nhưng họ không lộ nỗi sợ hãi, tất cả mọi người đều bình tĩnh đáng kinh ngạc. Chúng tôi chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ là nhìn thấy 52 phi cơ bị lạc khác để nhận ra rằng chúng tôi không phải là những người duy nhất trong tình trạng khó khăn này.
Trước đó chúng tôi được thông báo rằng họ sẽ cho phép từng máy bay một cho hành khách lần lượt ra khỏi máy bay. Lúc 6 giờ chiều, nhân viên Phi Trường Gander nói với chúng tôi rằng phiên chúng tôi được phép rời phi cơ sẽ là 11 giờ sáng hôm sau. Hành khách không hài lòng tí nào, nhưng họ cũng buông xuôi chấp nhận tin không vui này mà không phản đối ồn ào; họ bắt đầu chuẩn bị sẵn sàng để ở qua đêm trên máy bay.
Gander hứa với chúng tôi sẽ chăm sóc y tế khi cần thiết, nước, và dịch vụ vệ sinh. Và họ đã giữ lời. May mắn thay chúng tôi không có tình huống y tế nào phải lo lắng. Chúng tôi có một phụ nữ trẻ mang thai 33 tuần. Chúng tôi đã chăm sóc rất chu đáo cho thai phụ đó. Đêm đã trôi qua không gặp biến cố nào ngoại trừ sự xếp đặt chỗ ngủ không được thoải mái.
Khoảng 10 giờ 30 sáng ngày 12, một đoàn xe buýt trường học chạy đến. Chúng tôi ra khỏi máy bay và được đưa đến nhà ga, nơi chúng tôi phải thông qua thủ tục nhập cảnh và quan thuế, sau đó phải ghi danh với Hội Hồng Thập Tự.
Sau đó chúng tôi (phi hành đoàn) được tách ra khỏi đám đông hành khách và được xe van đưa đến một khách sạn nhỏ. Chúng tôi không biết hành khách của chúng tôi được đưa đi đâu. Nhân viên của Hội Hồng Thập Tự cho chúng tôi biết rằng thị trấn Gander có dân số khoảng 10.400 người và họ đang có khoảng 10.500 hành khách phải chăm sóc từ tất cả các máy bay đã buộc phải đáp xuống Gander! Họ bảo chúng tôi hãy yên tâm nghỉ ngơi tại khách sạn và họ sẽ liên lạc khi các phi trường Hoa Kỳ mở và hoạt động trở lại, nhưng chắc là phải mất một thời gian.
Chỉ khi chúng tôi đến khách sạn và bật Truyền Hình lên, chúng tôi mới biết hết toàn bộ cuộc tấn công khủng bố ở quê nhà (Hoa Kỳ), 24 giờ sau khi nó bắt đầu diễn ra.
Trong lúc đó, chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh rỗi và nhận thấy rằng người dân Gander vô cùng thân thiện. Họ bắt đầu gọi chúng tôi là “người máy bay”. Chúng tôi tận hưởng và đón nhận tính hiếu khách của họ, khám phá thị trấn Gander, thực sự chúng tôi đã được trải qua một khoảng thời gian khá tốt đẹp ở nơi đây.
Hai ngày sau, chúng tôi nhận được điện thoại thông báo chúng tôi được đưa trở lại sân bay. Trên máy bay, chúng tôi đoàn tụ với các hành khách của mình và khám phá những gì họ đã làm trong hai ngày qua. Những điều chúng tôi khám phá đó thật không thể nào tin được.
Gander và tất cả các cộng đồng xung quanh (trong vòng bán kính 75 cây số) đã đóng cửa tất cả các trường trung học, hội trường, nhà nghỉ, và bất kỳ nơi tập hợp lớn nào khác. Họ biến tất cả các cơ sở vật chất đó thành chỗ trú ngụ chung cho tất cả lữ khách lỡ đường. Có chỗ thì trải chiếu, chỗ thì trải nệm, chỗ thì trải túi ngủ và gối nằm.
Tất cả các học sinh trung học được kêu gọi tình nguyện đóng góp thì giờ để chăm sóc cho “khách lỡ đường”. 218 hành khách của phi cơ chúng tôi được đưa tới một thị trấn có tên là Lewisporte, cách Gander khoảng 45 cây số, nơi đó họ được trú ngụ trong một trường trung học. Hành khách phụ nữ nào muốn có khu ngủ riêng cũng được sắp xếp theo ý muốn. Các hành khách đi chung cả gia đình cũng được ở lại chung với nhau. Tất cả các hành khách lớn tuổi được đưa tới nhà riêng của cư dân trong vùng.
Các bạn còn nhớ người phụ nữ trẻ mang thai chứ? Cô ấy được đưa đến một nhà riêng đối diện bên kia đường với một cơ sở chăm sóc khẩn cấp 24 giờ. Có một Bác Sĩ đã được cử đến sẵn nếu cần, các y tá nam và nữ túc trực cạnh đám đông trong suốt thời gian tạm trú.
Các cuộc gọi điện thoại và e-mail về Hoa Kỳ và thế giới được thiết lập sẵn để tất cả mọi người có thể dùng mỗi ngày một lần. Vào ban ngày, hành khách được cung cấp các chuyến “du ngoạn”. Một số chọn đi du ngoạn bằng tàu thuyền trên các sông hồ và bến cảng. Một số chọn đi về đồng nội và trong các khu rừng của địa phương. Các tiệm bánh mỳ địa phương tiếp tục mở cửa để làm bánh mỳ tươi phục vụ khách lỡ đường.
Thức ăn được các cư dân nấu nướng ở nhà rồi mang đến cho các trường học. Người nào thích dùng bữa ở nhà hàng theo sự lựa chọn của họ cũng được đưa đi và được cung cấp các bữa ăn tuyệt vời. Tất cả mọi người đều được cấp phiếu miễn phí đến các tiệm giặt ủi địa phương để giặt quần áo vì tất cả hành lý vẫn còn giữ trên máy bay.
Nói cách khác, mọi nhu cầu cần thiết nhất của lữ khách lỡ đường đã đều được đáp ứng đầy đủ. Hành khách đã khóc khi kể lại với chúng tôi những câu chuyện này.
Cuối cùng, khi có tin tất cả phi trường ở Hoa Kỳ đã mở cửa trở lại, hành khách của chúng tôi được chở đến sân bay đúng giờ và không thiếu một người nào. Hội Hồng Thập Tự địa phương đã nắm đầy đủ tất cả các thông tin của mỗi hành khách và đã đưa trả hành khách về lại đúng chuyến bay. Họ phối hợp tất cả mọi điều một cách tốt đẹp. Thật đúng là hoàn toàn không thể tin được.
Khi hành khách đã lên máy bay, tâm trạng họ giống như vừa mới đi một chuyến du hành trên biển. Tất cả mọi người đều biết tên nhau. Họ trao đổi những câu chuyện của họ trong mấy ngày qua, khoe với nhau xem người nào được đối xử tốt hơn.
Chuyến bay của chúng tôi về đến Atlanta trông giống như một chuyến bay du ngoạn ăn chơi được thuê bao. Phi hành đoàn tránh ra để hành khách của chúng tôi tự do. Thật không thể tưởng tượng được. Hành khách hoàn toàn nốt kết với nhau và gọi nhau bằng tên một cách thân mật, cùng nhau trao đổi số điện thoại, địa chỉ nhà, địa chỉ email.
Và sau đó là một điều bất thường xảy ra. Một trong những hành khách của chúng tôi đến gần tôi và hỏi tôi rằng ông ta có thể dùng hệ thống âm thanh của phi cơ để nói vài lời được không. Chúng tôi không bao giờ cho phép điều đó trước đây. Nhưng lần này thì khác. Tôi nói “tất nhiên” và đưa máy vi âm cho ông. Ông nhắc mọi người về những gì họ vừa trải nghiệm trong mấy ngày qua. Ông nhắc nhở họ về lòng hiếu khách và tử tế mà họ đã nhận được từ tay của những con người hoàn toàn xa lạ. Ông tiếp tục nói rằng ông muốn làm một điều gì đó để đền đáp lại cho những cư dân tốt bụng của Lewisporte.
Ông cho biết ông sẽ thành lập một Quỹ tín thác dưới tên của DELTA 15 (Số hiệu chuyến bay của chúng tôi). Mục đích của quỹ tín thác là cung cấp học bổng đại học cho học sinh trung học của Lewisporte. Ông kêu gọi mọi khách đồng hành cùng chuyến bay đóng góp bất kỳ số tiền bao nhiêu cũng được. Khi chúng tôi đã gom góp đủ hết các tờ giấy ký tên hứa đóng góp có ghi số tiền, tên họ, số điện thoại và địa chỉ, tổng số khoản tài trợ là trên 4.000!
Người đề xướng đó là một Bác Sĩ ở Virginia, ông hứa phần ông sẽ đóng góp bằng với số tiền hành khách đã hứa đóng góp và sẽ tiến hành thủ tục giấy tờ lập học bổng. Ông cũng nói rằng ông sẽ chuyển đề nghị này đến Công Ty Hàng Không Delta và sẽ yêu cầu họ cùng hiến tặng.
Khi tôi viết lại những điều kỳ diệu này, quỹ tín thác đã lên hơn 5 triệu và đã hỗ trợ 134 học sinh theo học đại học.
Tôi chỉ muốn chia sẻ câu chuyện này bởi vì bây giờ chúng ta cần những câu chuyện đẹp như thế trong cuộc sống hôm nay. Nó mang lại cho tôi một chút hy vọng khi biết rằng người ta dù ở nơi xa xôi nào vẫn có thể đối xử tử tế với người lạ từ phương nào trôi dạt tới. Nó nhắc tôi thế giới này có bao nhiêu điều tốt đẹp. Bất chấp mọi điều xấu xa chúng ta thấy đang diễn ra trong thế giới ngày nay, câu chuyện này khẳng định rằng vẫn còn rất nhiều người tốt và thánh thiện trên thế giới và họ sẽ hiện ra khi bạn đang ở trong tình thế xấu tệ đi.
Xin Chúa ban phước lành cho Nhân Dân Hoa Kỳ. Xin Chúa ban phước lành cho người dân Canada!
Delta Flight 15 By Jerry Brown- True Story!
Nguồn: http://tulipoems.wordpress.com


Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

Đừng khóc nữa !




"Trông thấy bà, Chúa động lòng thương và bảo bà rằng: 'Đừng khóc nữa'." (Lc 7,13)


Lạy Chúa Giê-su, người đời chạy theo chỉ số thông minh IQ để học hành, có địa vị, chức vụ hầu được giầu sang phú quý mà sẵn sàng vô cảm trước người đồng loại. Chúa cho con biết, ngoài chỉ số IQ còn có chỉ số EQ, chỉ số xúc cảm. Chúa đã thương xót, cảm xúc trước người đàn bà góa thành Na-im khi con trai duy nhất của bà chết đi. Chúa đã đi bước trước để cứu sống người con trai của bà mà không ai cầu khẩn trước. Xin giúp con có được chỉ số  EQ tốt để con biết rung cảm trước nỗi đau của đồng loại và giúp đỡ họ theo ý Chúa muốn. Amen.

Đức tin không phải là chuyện đặt cược!




VRNs (16.9.2014) – Sài Gòn –  Không riêng gì nước ta, mà cả trên thế giới hiện đang có nhiều loại đặt cược khác nhau: đặt cược bóng đá, đặt cược đua ngựa. đặt cược giá vàng lên, xuống…
 Ngay cả trong thị trường chứng khoán, nổi cộm là thị trường bất động sản cũng là những cuộc đặt cược. Tiên đoán đúng thì thắng; tiên đoán sai thi sạt nghiệp.
 Theo dõi giá vàng và giá bất động sản trong gần một thập niện qua, ta thấy có nhiều người, nhiều công ty, nhiều tập đoàn đã vỡ nợ, kết cục là họ phá sản, trốn chạy, ngồi tù hay tự tử …

Hình minh họa
Đó là những cuộc đặt cược về vật chất, cùng lắm dẫn đến mất nghiệp, mất Công ty, ngồi tù. Ở đây, tôi giới thiệu đến độc giả một cuộc đặt cược mất cả cuộc sống hạnh phúc đời nay, và cả cuộc sống đời đời mai sau, nếu ta đặt cược sai cho mình.
 Câu chuyện đặt cược này đã được Blaise Pascal (1623-1662), nhà toán học cũng là nhà triết học lừng danh ở thế kỷ XVII người Pháp đưa ra:
 Phỏng theo nội dung câu chuyện đặt cược của Pascal
Có hai người tạm đặt tên là anh “A” và anh “B”.
Anh “A” tin có Thiên Chúa, tin có đời sau.
Anh “A” luôn cố gắng giữ và sống những điều Chúa dạy: Tôn thờ Thiên Chúa, anh dự lễ ngày Chúa nhật… và yêu mến anh em hết lòng, hay giúp đỡ những người nghèo khó. Anh sống công bằng và bác ái… Khi lỗi phạm anh tìm cách thống hối ăn năn… Nhờ thế, gia đình anh hạnh phúc, anh được bà con trân trọng, quí mến.
Và đặc biệt anh được bình an trong tâm hồn.
 Anh “B” không tin có Thiên Chúa, không tin có đời sau.
Anh “B” thường sống buông thả, giả hình. Anh vi phạm lỗi công bằng. Anh cố che đạy những điều sai quấy, miễn sao pháp luật không biết là được, vì anh chỉ sợ pháp luật. Kết quả gia đình mất hạnh phúc; dân làng chê bai; mọi người chỉ sợ anh chứ không trọng anh! Anh không có sự bình an thực sự trong tâm hồn.
 Pascal đưa ra hai giả thuyết về Thiên Chúa và đời sau:
Giả thuyết thứ nhất: Không có Thiên chúa cũng không có đời sau.
Nếu không có Thiên Chúa và đời sau thì ngay ở đời này anh “A” đã hơn anh “B” là gia đình hạnh phúc, mọi người quí mến. Anh “A” được bình an trong tâm hồn. 
 Còn anh “B”gia đình mất hạnh phúc, dân làng chê cười. Anh không có bình an trong tâm hồn. Còn sau khi chết cả anh “A” và “B” huề nhau.
 Giả thuyết thứ hai: Có Thiên Chúa và có đời sau:
Có Thiên Chúa và có đời sau thì anh “A” được hưởng trọn ven; trong lúc anh “B” mất trắng không được gì.
 Pascal kết luận: Khi ta tin vào Thiên Chúa và sự sống đời sau ta được cả đời nay lẫn đời sau, chỉ chịu thiệt đôi chút về chức quyền, danh vọng.
Nếu ta không tin vào Thiên Chúa ta mất cả đời này lẫn đời sau.
Như thế, người tin vào Thiên Chúa và sự sống đời sau là người khôn ngoan; người không tin vào Thiên Chúa là những người vô cùng dại dột.
 Đức tin không phải là chuyện đặt cược.
 Người Công giáo tin vào Thiên Chúa, tin vào sự sống đời sau không phải là một cuộc đặt cược may rủi như những cuộc đặt cược ta thường thấy, mà là sự xác tin, xác tín một cách mạnh mẽ. Họ sẵn sàng anh dũng hiên ngang lấy mạng sống mình để bảo vệ Đức Tin. Lịch sử nhân loại cũng như lịch sử Việt Nam đã minh chứng điều đó.
Người Công giáo dựa vào lý trí Chúa đã ban cho, và nhờ lý trí nhận biết Thiên Chúa, nhận biết đời sống vĩnh hằng qua:  lý chứng, nhân chứng, sự mạc khải
 Lý chứng:
Câu kinh bản tôi được học khi xưng tội lần đầu cách đây đã hơn nửa thế kỷ vẫn còn vang vọng, làm tôi say mê mãi cho đến nay. Hỏi: “làm sao biết có Đức Chúa Trời?”. Thưa: “Hãy nhìn xem trật tự lạ lùng của trời đất bèn nhận ra Đức Chúa Trời”.
Từ ngày đó đến nay, càng nghiền ngẫm, suy nghĩ, học hỏi, trao đổi tôi càng thấy câu kinh bản đó sao mà hay thế! sâu sắc thế! sao mà tóm lược gọn gàng thế!!
 Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo ngày nay thì dạy: “Những “con đường” để đến với Thiên Chúa như thể có khởi điểm là các thụ tạo: Thế giới vật chất và con người.” (SGLCHTG, 31)
 Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học hiện đại. Nhưng thử hỏi các nhà khoa học đã biết được bao nhiêu “Trật tự lạ lùng” vô biên của trời đất này. Sự hiểu biết của nhân loại trước “Thế giơí vật chất và con người” ví như hạt cát trong sa mạc; giọt nước giữa đại dương; như chiếc lá trong rừng cây. Nói như thế không có nghĩa là tôi không trân trọng những thành tựu lớn lao của khoa học.
Xin đan cử một thí dụ:
 Tiến sỹ Francis. Collins, người Mỹ, Giám đốc Dự án Giải mã Gen người, đang từ nhà khoa học vô thần đã trở thành hữu thần tin thờ Thiên Chúa, khi khám phá ra trong máu của con người có 3 tỉ 100 triệu mẫu cặp hệ thống gen, mật mã của sự sống, xác định trình tự ADN, sau hơn 10 năm nhóm của ông nghiên cứu.
 Tháng 6 năm 2000, bộ giải mã gen người này được công bố tại căn phòng phía Đông của Nhà Trắng Hoa Kỳ. Tổng thống Bill Clinton đã nói: “Ngày hôm nay, chúng ta được hiểu về loại ngôn ngữ mà Chúa đã sử dụng để sáng tạo nên sự sống. Hơn bao giờ hết, chúng ta nghiêng mình trước sự phước tạp, trước vẻ đẹp và sự diêụ kỳ của món quà thần thánh nhất, thiêng liêng nhất của Người”. (Ngôn ngữ của Chúa, những bằng chứng khoa học về Đức Tin. Nhà xuất bản Lao Động)
 Thế kỷ thứ XIII Thánh Toma (1225-1274) Tiến sỹ Thần học nổi tiếng thời trung cổ viết ra 5 lý chứng: Sự chuyển vận của vũ trụ; luật nhân quả; sắp xếp trật tự; bặc thang giá trị nơi vạn vật; cứu cánh của vạn vật, để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa.
 Lý chứng vững vàng nhất, hùng hồn nhất vượt không gian và thời gian giúp nhân loại nhận ra Thiên Chúa và sự sống đời sau không gì hơn toàn bộ Kinh thánh Tân và Cựu ước bao gồm 73 cuốn (46 cuốn cựu ước, 27 cuốn Tân Ước). Đây là lời mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại. Đây cũng là bộ sách giá trị nhất, lâu đời nhất, in nhiều nhất, bán chạy nhất, dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới cho đến ngày nay.
 Nhân chứng
Dòng lịch sử cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại gồm hai giai đoạn:
Thời Cựu ước kể từ khi có loài người đến Chúa xuống thế làm người.
ThờiTân ước từ khi Chúa giáng trần đến nay.
 Abraham, thời cựu ước, đã dạy cho nhân loại biết vâng phục, phó thác trọn vẹn đời mình cho Chúa. Ông sẵn sàng sát tế đứa con duy nhất Ixaác làm của lễ dâng lên Chúa… Vua Davit thì thức tỉnh nhân loại đừng ngả lòng, dù tội lỗi đến đâu mã trông cậy vào Chúa, sám hối ăn năn sẽ được Chúa thứ tha…
Chúa truyền Mười Điều Răn cho nhân loại giữ qua tổ phụ Mô-sê….
 Thời Tân ước: Các Thánh tông đồ thời Chúa Giêsu, các Thánh tử đạo, Các Thánh nam nữ ở trên trời và biết bao người sả thân vì đạo Chúa để loan báo Tin Mừng.
 Các tiên tri, các ngôn sứ, tổ phụ của loài người, Chúa cho hiện diện trong mỗi giai đoạn lịch sử cứu chuộc của Chúa, để minh chứng Chúa yêu thương con người vô biên, và hứa sẽ ban hạnh phúc đời sau cho những ai tôn thờ và giữ các giới răn của Người.
 Mạc khải
Mạc là bức màn; khải là hé mở. Mạc khải là hé mở bức màn. Thiên Chúa là Đấng toàn năng, nhiệm mầu vì yêu thương muốn cho con người được biệt Thiên Chúa là Đấng tự hữu, toàn năng, Đấng tạo ra trời đất muôn loài. Đồng thời muốn cho con người được chia sẻ niềm hạnh phúc vĩnh hằng cùng người mai sau. Chính vì thế, Thiên Chúa đã mạc khải cho con người biết những điều đó, mà riêng với khả năng con người thì không thể nào biết được. Mạc khải được lưu truyền qua Thánh Kinh và Thánh truyền cho đến ngày cánh chung.
 Kết luận
Chúa Giêsu chính là lý chứng, nhân chứng, sự mạc khải, phép lạ trung tâm trong lịch sử cứu độ của nhân loại. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, đã xuống thế làm người mang hai bản tính, Người đã chịu chết và đã phục sinh. Đó chính là lý chứng, chứng nhân, mạc khải, phép lạ vĩ đại nhất trong lịch sử cứu độ của Thiên chúa. Đó cũng chính là niềm tin vững vàng không gì thay đổi, niềm hy vọng, nỗi khát khao chờ mong của Người Công giáo vào sự sống đời sau, vào một Thiên Chúa tự hữu đầy lòng yêu thương, nhiệm mầu vô biên, quền năng tuyệt đối trên muôn loài.
 Lạy Chúa chúng con tin, nhưng xin nâng đỡ Đức Tin còn non yếu của chúng con.
                                                Inhaxiô Đặng Phúc Minh


Thiên Chúa và các khoa học gia


http://www.chuacuuthe.com/2014/09/thien-chua-va-cac-khoa-hoc-gia/

VRNs (16.9.2014) – Sài Gòn - Các khoa học gia có tin Thiên Chúa? Có 40% các khoa học gia tin Thiên Chúa, đa số là các khoa học gia trẻ tuổi. Chứng cớ về Thiên Chúa không dễ tìm thấy trong phòng thí nghiệm, nhưng tôn giáo vẫn giữ vai trò quan trọng trong giới khoa học.
Isaac Newton
Ông là một trong các khoa học gia nổi tiếng nhất. Ông là nhà vật lý và nhà toán học đã phát hiện định luật vạn vật hấp dẫn. Ông đưa ra chứng cớ về Thiên Chúa: “Thái dương hệ đẹp nhất, các hành tinh, và sao chổi, chỉ có thể xuất phát từ ý định và quyền lực về sinh vật thông minh và quyền hành”.
Albert Einsteinthienchua_khoahoc-fileminimizer
Ông là cha đẻ của thuyết tiến hóa. Khoa học gia nổi tiếng này tin vào quyền tối cao mà lại không nhận biết Thiên Chúa. Ông giải thích về quan điểm tâm linh: “Mọi người theo đuổi khoa học đều tin rằng thần linh biểu hiện trong quy luật của vũ trụ – một thần linh vượt trội con người, và trước thần linh này, chúng ta phải khiêm nhường. Theo cách này, sự theo đuổi khoa học dẫn tới cảm thức tôn giáo của một loại đặc biệt, điều này thực sự rất khác với tín ngưỡng của người ngây thơ”.
Stephen Hawkings
Khoa học gia nổi tiếng trong thời đại chúng ta là tiến sĩ Stephen Hawkings. Ông là chuyên gia về thuyết tương đối và cơ học lượng tử. TS Hawkings là người theo thuyết bất khả tri (agnostic), không phải là vô thần (atheist), nhưng ông có nói về Thiên Chúa: “Điều tôi đã làm là để chứng tỏ rằng có thể vũ trụ bắt đầu được xác định bằng quy luật của khoa học. Trong trường hợp này, không cần yêu cầu Thiên Chúa quyết định cách khởi đầu vũ trụ. Điều này không chứng tỏ là không có Thiên Chúa”. Điều “không chứng tỏ là không có Thiên Chúa” tức là “chứng tỏ có Thiên Chúa”.
Charles Darwin
Charles Darwin là nhà sinh học nổi tiếng với thuyết tiến hóa “nóng sốt” trong thời ông. Nhưng khi tuyên bố rằng con người tiến hóa từ cây cối và động vật như loài khỉ, Darwin đã đưa ra chứng cớ về Thiên Chúa: “Với nhận thức của chúng ta, không thể hiểu rằng vũ trụ to lớn và kỳ diệu này ngẫu nhiên mà có, đối với tôi có vẻ là sự tranh luận chính về sự hiện hữu của Thiên Chúa”.
Francis Collins
Dự án gen con người được hoàn tất năm 2003. Bản đồ gen kỳ diệu đó đã thay đổi các nghiên cứu của y học và sinh học. Lịch sử trước đó chưa bao giờ có nhận thức khoa học nào mở ra những cánh cửa tới việc cải thiện chất lượng của cuộc sống. TS Francis Collins là giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc gia về Hệ Gen Con người (National Human Genome Research Institute). Người ta hỏi:“Các khoa học gia có tin vào Thiên Chúa?”. Ông trả lời: “Khoa học không hiệu quả trong việc phê bình thế giới siêu nhiên. Đối với tôi, cả hai thế giới đều khá thực tế và khá quan trọng. Chúng nghiên cứu khác nhau. Chúng cùng hiện hữu. Chúng soi sáng lẫn nhau”.
Max Planck
Ông đoạt Giải Nobel về vật lý. Thuyết lượng tử của ông đã khiến nhân loại phải suy nghĩ lại một số niềm tin về triết học mà trước đây người ta ca tụng. Khoa học gia Kitô giáo này sống trong chế độ Đức quốc xã, ông thấy nhiều bạn bè và đồng nghiệp trong giới khoa học bị hành hạ vì niềm tin tôn giáo. Đây là lời ông nói về khoa học và Kinh Thánh: “Cả tôn giáo và khoa học đều cần tin vào Thiên Chúa. Đối với những người tin, Thiên Chúa ở trong sự khởi đầu, còn đối với các nhà vật lý thì Thiên Chúa là cuối cùng của sự cân nhắc… Không phải ngẫu nhiên mà các nhà tư tưởng lớn của các thời đại đều tin có linh hồn”.
Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger
Trước khi có máy vi tính, có một kiểu mẫu đối với nguyên tử và phân tử, điều này cho thế giới một điều gì đó gọi là “cơ chế sóng cuối cùng”. Một số người nói rằng việc áp dụng cơ chế lượng tử hiện đại là tiền bối đối với kỹ thuật như chúng ta biết ngày nay.
Erwin Schrödinger là nhà vật lý người Áo, sống có trách nhiệm. Ông nói về Thiên Chúa và khoa học: “Tôi rất ngạc nhiên thấy hình ảnh khoa học về thế giới thật ở xung quanh tôi là quá thiếu. Nó có nhiều thông tin thật, đặt kinh nghiệm của chúng ta vào một trật tự rất phù hợp, nhưng lại im lặng về mọi thứ, những thứ tạp nham lại ở gần tâm hồn chúng ta, thực sự là vấn đề đối với chúng ta. Nó không thể cho chúng ta biết về màu đỏ và màu xanh, vị đắng và vị ngọt, nỗi đau và niềm vui thể lý; nó chẳng biết gì về cái đẹp và cái xấu, điều thiện và điều ác, thần linh và vĩnh hằng”.
William H. Bragg
Ông là người Anh, là nhà vật lý, nhà hóa học, và nhà toán học. Ông là người tinh luyện quá trình sử dụng tia X để làm vỡ các tinh thể. Đó là khám phá lớn khiến ông đoạt Giải Nobel.
Ông giải thích về tôn giáo và khoa học: “Nhờ tôn giáo mà có mục đích của con người, nhờ khoa học mà đạt được mục đích. Đôi khi người ta tự hỏi không biết tôn giáo và khoa học có đối lập với nhau hay không. Thế này: theo nghĩa ngón tay cái và các ngón tay trong bàn tay đối lập với nhau. Đó là sự đối lập mà mọi thứ đều nắm bắt được”.
Wernher Von Braun
Bạn có thông minh hơn khoa học gia về rocket?  Kỹ sư không gian Wernher Von Braun là người Mỹ gốc Đức, ông không chỉ là cha đẻ của khoa học về rocket, ông còn là khoa học gia có niềm tin vào Thiên Chúa. Ông nói: “Tôi thấy khó hiểu về một khoa học gia mà lại không nhận biết sự hiện hữu của Đấng Tối Cao ẩn sau sự hiện hữu của vũ trụ, như vậy thì cũng giống như một thần học gia mà lại từ chối sự tiến bộ của khoa học”.
Rõ ràng khi bạn hỏi: “Các khoa học gia có tin vào Thiên Chúa?”. Trả lời: “Có!”. Đó là sự thật, dù không phải là khoa học gia nào cũng tin như vậy. Nhưng người ta có thể thấy rằng chứng cớ về Thiên Chúa có thật trong thế giới khoa học.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

Thế giới đang đối mặt với cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ II



Đức Hồng Y Oscar Rodriguez Maradiaga, Chủ tịch Ủy ban Caritas Quốc tế



VRNs (16.09.2014) –Sài Gòn- Đức Hồng Y Oscar Rodriguez Maradiaga, Chủ tịch Ủy ban Caritas Quốc tế cảnh báo rằng thế giới đang đối mặt với cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ II.

Trong một cuộc họp cấp cao của Ủy ban Caritas quốc tế diễn ra từ ngày 15- 17 tháng 9 tại Rôma để bàn về cuộc khủng hoảng nhân đạo tại Trung Đông. ĐHY đã phát biểu những lời đầy nhiệt huyết về việc xây dựng hòa bình trong buổi khai mạc. Ngài nói rằng: “Bạo lực không bao giờ có hồi đáp”. Như lời phát biểu của Đức Giáo Hoàng Benedict XV đã mô tả về cuộc chiến tranh thế giới lần I từ năm 1914-1918 rằng: “Bạo lực chỉ đưa đến nhiều vụ tàn sát phi lý hơn”.
ĐHY cũng cho biết là “không thể giải quyết hết các vấn đề đang diễn ra tại Iraq vì không còn đủ nguồn viện trợ nhân đạo.”
Ngài nói cũng nói đến giải pháp hòa bình ở Trung Đông cần phải dựa trên nền “công lý cho các dân tộc”. “Hòa bình tại Trung Đồng không được áp đặt từ bên ngoài, nhưng đạt được từ bên trong. Chúng ta cần phải đàm phán trong tất cả các khu vực.”
Ngài nói về tình hình khủng hoảng mà Tổ chức Caritas đang đối mặt trong thời kỳ cực kỳ khó khăn kể từ thế chiến thứ II như sau:
Mỗi phút có bốn trẻ em tại Syria bị buộc phải rời bỏ nhà cửa.
Những kẻ cực đoan ở Iraq và phía Đông Syria đang thực hiện thanh trừng sắc tộc và tôn giáo trên bình diện rộng tại các nơi dưới quyền kiểm soát của họ.
Tại Gaza có khoảng nửa triệu trẻ em không thể trở lại trường học vì lớp học đã bị phá hủy. Và các trẻ em này đang phải chạy trốn lánh nạn. Những vùng lãnh thổ rộng lớn ở Palestine bị Israel chiếm đóng và tịch thu.
Là một tổ chức nhân đạo, Caritas đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn nhất thế giới kể từ Chiến tranh thế giới thứ II.
Tại Mosul, một thành phố của Iraq nhóm Hồi nhóm cực đoan khủng bố bằng cách đánh dấu chữ cái “N” trong tiếng Ả Rập mang nghĩa “Nazarene”, trên cửa nhà của Kitô hữu để xác định người trong nhà sẽ bị đánh đập hoặc bị hành quyết.
Phương Tây tìm cách để xây dựng một liên minh quân sự và gửi thêm máy bay ném bom và máy bay chiến đấu đến Syria và Iraq trong thời gian gần đây. Tuy vậy bạo lực sẽ không bao giờ có hồi đáp. Nó chỉ đưa đến nhiều vụ tàn sát phi lý hơn mà thôi.
Chúng ta vừa đánh dấu 100 năm thế chiến thứ I, vang vọng lại lời Đức Giáo Hoàng Benedict XV rằng: “Vũ lực chỉ đè bẹp được thân xác nhưng nó không thể đè bẹp được linh hồn”.
Tuần trước, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cho biết thêm: “Chiến tranh là một sự phi lý. Để giải quyết được nó chỉ có con đường đối thoại, gặp gỡ và tìm kiếm chân lý.”
Trong buổi triều yết chung vào thứ Tư vừa qua, Đức Thánh Cha nói với hành hương nói tiếng Ả rập rằng: “Giáo Hội đối mặt với sự thù hận bằng tình yêu, đánh bại bạo lực bằng sự tha thứ; đáp trả với các loại vũ khí bằng lời cầu nguyện.”
Nhiệm vụ đầu tiên của liên đoàn Caritas là viện trợ nhân đạo. Đó là một thách đố vào thời điểm này vì có quá nhiều nạn nhân cần đến sự trợ giúp. Điển hình như sau:
Có 13 triệu người Syria đang tuyệt vọng, 3 triệu người đang phải tị nạn ở các quốc gia khác.
Các tổ chức Caritas tại Syria, Lebanon, Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ đã cung cấp thức ăn, chỗ ở, bảo vệ, giáo dục, sức khỏe và tư vấn cho trên 900.000 người Syria kể từ khi cuộc xung đột diễn ra.
Tại Gaza, ước tính có khoảng 10.000 ngôi nhà đã bị phá hủy trong mùa hè này, cùng với 70 phần trăm các nhà máy và các nhà máy điện bị phá hủy. Nhân viên Caritas tại Jerusalem đã làm việc trong suốt cuộc oanh tạc, cung cấp thực phẩm và chăm sóc sức khỏe cho những người cần đến sự trợ giúp khẩn cấp.
Hơn 1,3 triệu người Iraq đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa kể từ đầu năm nay. Họ phải sống ngoài trời, dưới gốc cây hoặc dưới hầm cây cầu. Nhân viên Caritas tại Iraq buộc phải chạy trốn, nhưng họ vẫn tiếp tục cung cấp viện trợ cho những người cần.
Nguồn tài nguyên của Caritas đang bị cạn kiệt trong khi nhu cầu lại tăng nên Caritas cần phải phối hợp tốt hơn để đảm bảo giúp đỡ những nơi cần thiết nhất. Tổ chức Caritas quốc tế phải tiếp cận với các thành viên Giáo hội và các đối tác để tìm nguồn viện trợ.
Caritas hiện nay đang cần đến nguồn tài trợ ước tính khoảng 7,7 tỷ USD, nên Caritas kêu gọi cộng đồng quốc tế tiếp tay để trợ giúp nhân đạo tại Syria. Caritas cũng cần thúc giục các chính phủ để ngăn chặn hành động của IS và nỗ lực hơn nữa để hỗ trợ cho các chương trình viện trợ nhân đạo.
Lebanon, Jordan, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước láng giềng không thể để chính phủ Syria và Iraq đối phó với các cuộc khủng hoảng một mình. Và điều đó có nghĩa là các nước này cần đón nhận những người đến xin tị nạn.
Việc viện trợ nhân đạo là chưa đủ để giải quyết vấn đề, Caritas cần phải tham gia vận động cho nền hòa bình tại khu vực này.
Đức Thượng Phụ Louis Sako Raphael, Chủ tịch hội đồng Giám mục tại Iraq, cũng đã lên án việc IS đang ‘tuyệt chủng’ các Kitô hữu và người thiểu số Yezidis tại vùng đất mà họ đã sống từ 1.700 năm qua.
Cuộc họp cũng sẽ bàn đến sự ra đi của các Kitô hữu tại đây cũng như sự tuyệt chủng của nhóm dân tộc thiểu số đang là một mối quan tâm lớn. Nếu như việc này xảy ra sẽ gây hậu quả rất lớn cho chính các cộng đồng của họ, cho xã hội và cho cả thế giới. 
Vào tháng 6 vừa qua, tại buổi cầu nguyện chung cho nền hòa bình tại Trung Đông diễn ra tại vườn Vatican, ĐTC đã mời Tổng thống Israel ông Shimon Peres và Tổng thống Palestine ông Mahmoud Abbas tham dự. ĐTC nói rằng “kiến tạo hòa bình cần lòng dũng cảm còn hơn cả trong chiến tranh”.
Trong tâm tình ấy, chúng ta hãy cầu nguyện cho nền hòa bình trên toàn thế giới.
Hoàng Minh


Hiệp nhất trong khác biệt.



Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Thứ Ba Tuần 24 TN2

Bài đọc: I Cor 12:12-14, 27-31; Lk 7:11-17.

1/ Bài đọc I: Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Ki-tô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thánh Thần để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thánh Thần duy nhất. Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi.
                    Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Ki-tô, và mỗi người là một bộ phận. Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ. Chẳng lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là ngôn sứ, ai cũng là thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, ai cũng được ơn chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng giải thích được các tiếng lạ sao?
Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.

2/ Phúc Âm:   Sau đó, Đức Giê-su đi đến thành kia gọi là Na-in, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người. Khi Đức Giê-su đến gần cửa thành, thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: "Bà đừng khóc nữa!" Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giê-su nói: "Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!" Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ. Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: "Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người". Lời này về Đức Giê-su được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận.



GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hiệp nhất trong khác biệt.             

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Thần học về thân thể của thánh Phaolô.

1.1/ Nhiều chi thể khác nhau nhưng trong cùng một Thân Thể là Đức Kitô:

            Thánh Phaolô dùng hình ảnh thân thể con người với những chi thể khác nhau để áp dụng cho thân thể của Chúa với những chi thể khác nhau là các tín hữu: “Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy.” Trong một thân thể, không có chi thể nào hèn kém đến độ thân thể không cần đến; nhiều khi những chi thể xem ra nhỏ bé yếu đuối hay hèn kém lại càng cần thiết hơn. Cũng vậy, “Tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thánh Thần để trở nên một thân thể.” Trong Chúa Kitô, không có một cá nhân nào hèn kém đến độ bị lọai trừ ra ngòai. Tất cả các hàng rào ngăn cách con người với nhau ngòai xã hội như ngôn ngữ, giai cấp, tài năng … phải bị dẹp bỏ để mọi người trở thành anh chị em với nhau.   

            Chúng ta đã thấy thánh Phaolô áp dụng thần học thân thể này cho rất nhiều lãnh vực, chẳng hạn việc có nên ăn thịt cúng. Ngài trả lời cứ việc ăn mà không cần phải hỏi han lôi thôi; nhưng nếu việc ăn thịt cúng làm cho một tín hữu mất đức tin thì ngài sẽ không ăn, vì tín hữu này đã được Chúa Giêsu đổ máu ra để chuộc tội. Hay hôm qua khi bàn về Bữa Tiệc Tình Yêu, ngài nói: Tất cả những ai ăn Bánh và uống Rượu - là ăn chính Mình và uống Máu Chúa - đều trở nên một Thân Thể và được thông phần vào chính sự sống của Đức Kitô, nhờ Máu của Ngài. Vì thế, tất cả phải ăn uống làm sao để đừng ăn uống án phạt mình qua việc phân chia giai cấp giữa người giầu và kẻ nghèo.

1.2/ Nhiều sứ vụ khác nhau nhưng được trao ban bởi cùng một Thánh Thần:

            Một áp dụng khác về thần học thân thể là mỗi người tín hữu được Thiên Chúa trao một sứ vụ khác nhau: tông đồ, tiên tri, thầy dạy, làm phép lạ, chữa lành, quản trị, người luôn giúp đỡ, hay nói tiếng lạ. Tất cả các sứ vụ đều nhằm một mục đích là để xây dựng nhiệm thể của Đức Kitô.

            Con người thường có khuynh hướng quan trọng hóa sứ vụ của mình và khinh thường sứ vụ của những người khác. Họ nghĩ chỉ có sứ vụ của họ mới cần thiết còn những sứ vụ khác kém quan trọng hơn hay không cần thiết. Thánh Phaolô dùng hình ảnh của thân thể để bác bỏ quan niệm này. Ngài nói tất cả các chi thể đều quan trọng cho việc gìn giữ thân thể khỏe mạnh. Mắt không thể bảo tay “Tao không cần đến mày;” đầu cũng không thể bảo hai chân “Tao không cần đến chúng mày.” Hơn nữa, tất cả các sứ vụ được ủy thác cho mỗi người bởi cùng một Thánh Thần. Ngài không những biết khả năng của mỗi người mà biết Nhiệm Thể Chúa Kitô cần gì để phát triển, nên sắp xếp sứ vụ và ban ơn cần thiết để mỗi người có thể chu tòan sứ vụ của mình.

            Một khuynh hướng khác là muốn làm những gì xem ra được coi là quan trọng theo tiêu chuẩn của thế gian; chẳng hạn khuynh hướng thích làm lớn và nói tiếng lạ nơi cộng đòan Corintô. Trong Phúc Âm không thiếu những người có khuynh hướng này như Mẹ của hai ông Giacôbê và Gioan đem hai con đến xin Chúa ban cho một đứa ngồi bên tả và một đứa ngồi bên hữu trong vương quốc của Chúa. Chúa sửa dạy các ông: “Ai muốn làm lớn giữa an hem thì phải làm người phục vụ an hem. Và ai muốn làm đầu an hem thì phải làm đầy tớ anh em.”

2/ Phúc Âm: Chúa động lòng thương và cho con trai duy nhất của Bà mẹ Nain sống lại.

            Đứng trước cái chết con người hòan tòan bất lực và hỏang sợ khi phải đương đầu với cái chết, nhất là những cái chết trẻ, nhiều người, và đột ngột. Như Bà mẹ Nain hôm nay, Bà đã góa chồng và chỉ có một con duy nhất là niềm hy vọng để nâng đỡ Bà trong cuộc sống trên dương gian; thế mà anh cũng vĩnh viễn ra đi. Chắc Bà không bao giờ nghĩ là Bà sẽ phải chôn con.

            Người Hy-Lạp, nhất là những người theo chủ thuyết Khắc Kỷ, họ tin có Đấng Tối Cao; nhưng không tin Ngài có cảm xúc trước những đau khổ của con người. Họ lý luận: Nếu con người có thể làm cho Ngài vui hay buồn, tức là con người có ảnh hưởng trên Ngài; khi con người có ảnh hưởng trên Ngài là con người lớn hơn Ngài; nhưng không ai có thể lớn hơn Đấng Tối cao. Vì vậy, Đấng Tối Cao phải là Đấng không có cảm xúc. Niềm tin này hòan tòan ngược lại với niềm tin của người Công Giáo, Thiên Chúa cảm thương với nỗi đau khổ của con người. Thánh Luca tường thuật Chúa Giêsu chạnh lòng thương Bà mẹ góa chỉ có đứa con côi mà giờ đây cũng không còn nữa, Ngài an ủi: "Bà đừng khóc nữa!" Trước khi cho Lazarus sống lại, Gioan tường thuật “Chúa khóc” (Jn 11:35) và “Chúa thổn thức trong lòng” (Jn 11:38).

            Thiên Chúa có thể làm cho kẻ chết sống lại. Trong Cựu Ước, chỉ có tiên tri Elisha làm cho con trai của Bà góa miền Shunem sống lại bằng cách kề miệng ông trên miệng nó (2 Kgs 4:34-37). Trong Phúc Âm, có ít nhất 3 lần Chúa làm cho kẻ chết sống lại: Cho con gái của ông trưởng hội đường Giaia sống lại (Mt 9:18-26, Mc 5:35-43, Lk 8:40-56); Chúa Giêsu làm cho anh thanh niên sống lại và trao anh lại cho bà mẹ Nain hôm nay (Lk 7:11-17); và Chúa cho Lazarus chết 3 ngày được sống lại (Jn 11:38-44). Khi chứng kiến quyền năng của Thiên Chúa cho kẻ chết sống lại, con người kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa: "Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người."

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

            - Hình ảnh những chi thể khác nhau của một thân thể sẽ giúp chúng ta giải quyết nhiều những vấn đề trong cuộc sống: tham quyền hành, ghen tương, bè đảng, khai trừ nhau … Mỗi người chúng ta đều có chỗ đứng trong tòa nhà của Thiên Chúa và đều được Thánh Thần trao cho một sứ vụ để xây dựng tòa nhà này. 
            - Thiên Chúa có quyền trên sự chết và Ngài quan tâm đến những đau khổ của kiếp người. Những điều này là hy vọng cho cuộc đời chúng ta vì biết rằng những đau khổ có ý nghĩa và sự chết chỉ là tạm thời. Nếu chúng ta kiên trì vượt qua đau khổ, chúng ta sẽ cùng sống lại và chung hưởng vinh quang với Thiên Chúa.