CHÂN THIỆN MỸ MẾN CHÀO CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

CHÚA NHẬT CHÚA HIỂN LINH NĂM B (04/01/2015)

THÔNG BÁO
CHÚA NHẬT CHÚA HIỂN LINH “B”
04/01/2015
VPGX trân trọng thông báo:
1/ Giáo Xứ Mỹ Hạnh – Huyện Ba Tri – Tỉnh Bến Tre thuộc Giáo Phận Vĩnh Long. Nhà Thờ         xây dựng đã lâu, lại ở vùng sông nước luôn bị ngập lụt vì triều cường, nay đã hư hỏng cần xây dựng để có nơi cử hành các nghi thức phụng vụ của Giáo Hội, cũng như đọc kinh cầu nguyện và sinh hoạt cho cộng đoàn tín hữu.
Trong tâm tình sống định hướng truyền giáo, đáp lời kêu gọi của Đức Cha Giáo Phận Vĩnh Long cũng như Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận Sài-gòn, Giáo Xứ có đặt thùng quyên giúp xây dựng  trọn ngày Thứ Bảy 03.01 và Chúa Nhật 04.01.2015.
2/ Kính mời quí phụ huynh có con em ghi danh học Lớp Giáo lý Vỡ lòng tham dự buổi họp          đầu khóa vào chiều Chúa Nhật 04.01.2015 lúc 18 giờ 30 tại Phòng Hiệp Nhất Lớn sau Nhà Thờ.    Đề nghị quí phụ huynh quan tâm đi đầy đủ và đúng giờ.
Lưu ý: Thánh lễ khai giảng được cử hành vào 19 giờ Thứ Hai 05.01.2015 tại Nhà Thờ.
(Thông báo 2 không đọc trong Thánh lễ 18 giờ 30  và  20 giờ.)
3/ Thứ Hai đầu tháng 05.01.2015
a/ Lúc 6 giờ, theo thông lệ, có Thánh lễ tại Lễ Đài cầu nguyện cho các tín hữu đã được Chúa gọi về, cách riêng quí Tu Sĩ Dòng Chúa Cứu Thế và ông bà đang an nghỉ tại Phòng hài cốt.
b/ Lúc 18 giờ, lễ Thánh Giám Mục Gioan Newmann, Tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế.
Lưu ý: Tại các Xóm Giáo không cử hành Thánh lễ ngày 05/01/2015.
4/ Thứ Ba 06/01/2015, trước Thánh lễ 18 giờ 00, có 30 phút học hỏi về Tông Huấn Niềm Vui của   Tin Mừng của Đức Thánh Cha Phanxicô.
5/ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế kính mời quí cộng đoàn tham dự Đêm Giao Hưởng Hợp Xướng
Chủ đề: Mẹ Hằng Cứu Giúp – Linh Ảnh Tình Yêu
Được cử hành vào ngày 08.01.2015 (Thứ Năm) vào lúc 19 giờ tại Nhà Thờ Giáo Xứ, dưới sự chủ tọa của Đức Cha Mathêô Nguyễn Văn Khôi.
Lưu ý: Tối nay không có Chầu Thánh Thể.
6/ Thứ Bảy 10/01/2015 vào lúc 19 giờ, Giáo Xứ có tổ chức Chương Trình Hội Thảo Chuyên Đề Hậu Kết Hôn năm 2015
-      Đề tài: “NGHỆ THUẬT LÀM VỢ - CHỒNG”.
-      Thuyết trình viên: Bác sĩ Têrêsa Nguyễn Lan Hải.
-      Địa điểm: Lầu 3, Phòng 01 (dãy A sau Nhà Thờ).
Xin quí cộng đoàn quan tâm tham dự, rộng lòng giúp xây dựng Nhà Thờ Mỹ Hạnh –  Ba Tri.
Nguyện Chúa Hiển Linh chúc phúc và ban hồng phúc cho quí ân nhân và gia đình.          
                                                                                                                                              VPGX

Tình yêu Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta nhiệt thành làm chứng cho Ngài.

Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Ngày 3 tháng 1 GS

Bài đọc: I Jn 2:29 - 3:6; Jn 1:29-34. 

1/ Bài đọc I: 29 Nếu anh em biết Thiên Chúa là Đấng Công Chính, anh em cũng phải biết rằng: phàm ai sống công chính thì đã được Thiên Chúa sinh ra.1 Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi
cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.
Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người.
2 Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa;
nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ.
Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người,
vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
3 Phàm ai đặt hy vọng như thế vào Đức Ki-tô
thì làm cho mình nên thanh sạch như Người là Đấng thanh sạch.
4 Phàm ai phạm tội thì cũng chống lại luật Thiên Chúa,
vì tội lỗi chống lại luật Thiên Chúa.
5 Thế mà anh em biết: Đức Giê-su đã xuất hiện
để xoá bỏ tội lỗi, và nơi Người không có tội lỗi.
6 Phàm ai ở lại trong Người thì không phạm tội.
Còn ai phạm tội thì đã không thấy Người, và cũng chẳng biết Người.

2/ Phúc Âm: 29 Hôm sau, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian.
30 Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.
31 Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước."
32 Ông Gio-an còn làm chứng: "Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.
33 Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần."
34 Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn." 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Tình yêu Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta nhiệt thành làm chứng cho Ngài.

            Dựa vào câu tục ngữ: “Con cái nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh,” người ta có thể biết bố mẹ của một người tốt hay xấu. Người con có thể làm vinh danh cha bằng những việc tốt lành hay làm ố danh cha bằng những việc tội lỗi.
            Các Bài đọc hôm nay tập trung vào bổn phận phải làm vinh danh Thiên Chúa của các Kitô hữu. Trong Bài đọc I, Thánh Gioan nhắc lại cho các tín hữu họ đã trở thành con Thiên Chúa, và bổn phận của họ phải trở nên giống Thiên Chúa bằng đời sống thánh thiện và tinh tuyền, và bằng cách tránh xa tội lỗi. Trong Phúc Âm, Gioan Tẩy Giả làm gương cho chúng ta về bổn phận làm chứng cho Thiên Chúa bằng lời nói cũng như trong cách sống theo sự thật.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I:

1.1/ Người Kitô-hữu trở thành con Thiên Chúa bằng niềm tin vào Đức Kitô: Thánh Gioan đã nói rõ ràng trong Tin Mừng của ngài, chương 1: “Tất cả những ai tin vào Đức Kitô, Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Jn 1:13). Ở đây, ngài nhắc lại điều này: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.” Cũng trong chương đầu tiên đó, Chúa Giêsu đã đến nhà các gia nhân Người, nhưng các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người (Jn 1:11), Vì thế, mặc dù sự thật “chúng ta là con Thiên Chúa,” nhưng thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người.
            Nhìn thấy Thiên Chúa như Thiên Chúa là, hay “diện đối diện,” là niềm mong mỏi của các Kitô hữu; nhưng để đạt được ước mong này, người Kitô hữu phải sống thanh sạch, vì chỉ có những ai thanh sạch mới được nhìn thấy Thiên Chúa (Mt 5:8). Con người tội lỗi chỉ có thể trở nên thanh sạch nhờ Đức Kitô, Ngài tẩy trừ con người khỏi tội và ban ơn thánh hóa để con người có thể trở nên công chính và được nhìn thấy Thiên Chúa.

1.2/ Làm vinh danh Chúa bằng cách tránh xa tội lỗi: Thánh Gioan cũng suy luận giống như Thánh Phaolô về sự liên hệ giữa Lề Luật với tội lỗi, và vai trò của Đức Kitô trong việc xóa bỏ tội lỗi và làm cho con người trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa. Ngài nói: “Phàm ai phạm tội thì cũng chống lại luật Thiên Chúa, vì tội lỗi chống lại luật Thiên Chúa. Thế mà anh em biết: Đức Giêsu đã xuất hiện để xoá bỏ tội lỗi, và nơi Người không có tội lỗi. Phàm ai ở lại trong Người thì không phạm tội. Còn ai phạm tội thì đã không thấy Người, và cũng chẳng biết Người.”

2/ Phúc Âm: Hai lời chứng của Gioan Tẩy Giả về Đức Kitô:

2.1/ Lời chứng thứ nhất của Gioan: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian”: Chỉ trong một câu làm chứng ngắn ngủi, Gioan đã mặc khải cho con người biết sứ vụ chính yếu của Chúa Giêsu khi đến trần gian: Ngài phải hy sinh chịu sát tế để đền tội cho con người. Ba hình ảnh “Con Chiên” của Cựu Ước là nền tảng của “Chiên Thiên Chúa” mà Gioan nói tới hôm nay:
            (1) Con Chiên Vượt Qua: Trước biến cố Xuất Hành của Do-Thái ra khỏi Ai-Cập, mỗi gia đình phải sửa sọan giết một con chiên, và lấy máu của nó bôi trên cửa ra vào. Đêm đó, các thiên thần được lệnh đi tàn sát tất cả các con đầu lòng của người Ai-Cập. Gia đình nào có máu bôi trên cửa, các thiên thần sẽ đi ngang qua và không tàn sát con trẻ đầu lòng trong đó (Exo 12:11-13). Biến cố Vượt Qua này luôn được coi là hình ảnh báo trước Cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, Chiên Thiên Chúa (Jn 2:13).
            (2) Con dê của Ngày Xá Tội: Trong Ngày này, dân chúng sẽ chuẩn bị 2 con dê để dâng lên Thiên Chúa làm của lễ xá tội cho con người. Một con sẽ được các tư tế, sau khi cầu nguyện và đặt các tội của dân trên vai nó, phóng thích cho chạy vào sa mạc cho quỉ Azazel. Một con sẽ bị giết và lấy máu của nó rảy trên dân chúng (Lev 16:7-30).
            (3) Con chiên sát tế trong Đền Thờ: Mỗi sáng và chiều trong Đền Thờ Jerusalem, các người phục vụ trong đó phải sát tế một con chiên một tuổi để làm lễ vật hy sinh xóa tội cho con người theo Luật ấn định (Exo 29:38-42).
            “Có người đến sau tôi, nhưng trổi vượt hơn tôi, vì có trước tôi”: Chúa Giêsu trong thân phận con người, tuy ra đời sau Gioan, nhưng Ngài có trước từ đời đời trong bản tính Thiên Chúa. Không phải Chúa Giêsu chỉ có trước, nhưng Ngài quan trọng và uy quyền hơn Gioan gấp bội, vì Ngài mang trong mình uy quyền của Thiên Chúa. Gioan nói rõ nhiệm vụ của mình là chuẩn bị đem mọi người tới Thiên Chúa: Gioan không là gì cả, nhưng Đức Kitô là mọi sự. Vì thế, khi gặp được Đức Kitô, Gioan chỉ và ra lệnh cho 2 môn đệ của ông đi theo Đức Kitô, ông không giữ lại cho mình điều gì cả.
            Đây phải là bài học cho con người: không phải ai sinh sau hay đến sau cũng thua người sinh hay đến trước, không phải cha mẹ là luôn hơn con cái, vì “con hơn cha là nhà có phúc.” Điều quan trọng là con người phải biết tôn trọng sự thật; và người có tài hơn không phải để kiêu căng, hống hách, nhưng phải biết khiêm nhường và phục vụ những người kém tài hơn mình.

2.2/ Lời chứng thứ hai của Gioan: “Tôi đã thấy Thánh Thần tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thánh Thần xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần." Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”
            Gioan Tẩy Giả được Thiên Chúa cho thấy thị kiến Thánh Thần hiện xuống tựa chim bồ câu khi ông làm Phép Rửa cho Chúa Giêsu trong sông Jordan. Bên Palestine, chim bồ-câu là chim thánh; con người không được săn và không được ăn chim bồ câu. Các Rabbi thường nói Thánh Thần di chuyển và bay lượn như chim bồ câu trên những vùng hoang dã vô trật tự thuở xa xưa để thở sinh khí vào và mang trật tự cùng huy hòang cho nó (Gen 1:2). Thánh Thần hiện xuống và ở lại trên Đức Kitô khi Ngài chịu Phép Rửa để mang quyền năng và chuẩn bị cho Ngài trong sứ vụ rao giảng sắp tới. Với thị kiến này, Gioan không còn nghi ngờ gì nữa, ông chứng thực Đức Kitô chính là Người được Thiên Chúa tuyển chọn để mang Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa tới thành công.
           
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

            - Tất cả chúng ta là con cùng một Cha trên trời; nhiệm vụ của chúng ta là lo chung một mối lo âu với Cha là làm sao cho tất cả nhân lọai tin vào Đức Kitô, Người luôn luôn làm theo ý Chúa Cha, để được sống muôn đời.
            - Để đạt được mục đích này, chúng ta phải gạt bỏ mọi ghen tị và ham muốn quyền lực, để cùng nhau lo việc của Cha trên trời. Khi thấy người khác có tài lôi kéo mọi người về với Chúa, chúng ta phải vui mừng và cộng tác với họ để Nước Chúa càng ngày càng mở rộng.
            - Chúng ta càng ngày càng phải nhỏ đi thì Chúa mới càng ngày càng lớn lên được, trước là trong ta, và sau đó đến mọi người.


Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Tin yêu Chúa, cầu nguyện cho Giáo Hội hiệp nhất.



"Đấng ấy sẽ đến sau tôi, nhưng chính Đấng ấy đã có trước tôi, và tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người." (Ga 1,27)


Lạy Chúa Giê-su, xin giúp con nhận ra Chúa là Đấng cứu độ trần gian để con vững lòng tin vào Chúa và sống chứng nhân để người xung quanh con cũng đón nhận Chúa như con. Hôm nay Giáo Hội mừng kính hai Thánh BASILIÔ CẢ VÀ GRÊGORIÔ NAZIANÔ, xin giúp con noi gương các Ngài luôn yêu mến Giáo Hội, luôn cầu nguyện cho Giáo Hội được Hiệp Nhất. Amen.

Thế Giới Nhìn Từ Vatican 26/12 – 01/01/2015: Đầu Năm Mới tại Vatican







1. Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự buổi hát kinh chiều tạ ơn ngày cuối năm

Vào lúc 5h chiều thứ Tư 31 tháng 12, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự buổi hát kinh chiều tạ ơn Te Deum bên trong Đền Thờ Thánh Phêrô cùng với tất cả các vị trong giáo triều Rôma trong đó có hơn 20 Hồng Y, đặc biệt là Đức Hồng Y Agostino Vallini, Giám Quản Rôma, các Giám Mục phụ tá, đông đảo các cha sở và tín hữu cùng với Ông Đô Trưởng và chính quyền miền Lazio và thành phố Roma. Hiện diện trong buổi lễ cũng có đông đảo các vị trong Ngoại Giao Đoàn cạnh Tòa Thánh.

Đây là một truyền thống đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 giải thích như sau: “Giáo Hội gợi ý rằng chúng ta không nên kết thúc năm cũ mà không bày tỏ lời cám tạ Chúa, vì những ơn lành Ngài ban cho chúng ta”.

Cuối kinh chiều, có nghi thức đặt Mình Thánh Chúa và hát kinh Te Deum tạ ơn Thiên Chúa. Thánh thi Te Deum, nghĩa là Lạy Thiên Chúa, chúng con xin ca ngợi hát mừng, tuyên xưng Ngài là Ðức Chúa, là một bài thánh thi Latinh cổ xưa bằng văn xuôi có nhịp điệu tương tự như nhịp điệu của bài Gloria in Excelsis Deo, tức là Kinh Vinh Danh: Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời.

Nội dung thánh thi Te Deum có thể dịch như sau:

Sau đó, Đức Thánh Cha đã ra quảng trường thánh Phêrô viếng thăm và cầu nguyện trước hang đá khổng lồ tại đây.

2. Thánh lễ đầu Năm Mới tại Vatican

Lúc 10h sáng thứ Năm 1 tháng Giêng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chào đón năm mới với thánh lễ trọng thể kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và Ngày Hoà Bình thế giới lần thứ 48 tại Đền Thờ Thánh Phêrô.

Chủ đề của ngày Hòa Bình Thế Giới năm nay là “Không còn là nô lệ, nhưng là anh chị em”,

Cùng đồng tế với Đức Thánh Cha có đông đảo các vị trong giáo triều Rôma. Đặc biệt, Đức Hồng Y Peter Turkson, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình, và Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã đứng hai bên Đức Thánh Cha trên bàn thờ. Tham dự thánh lễ có các vị đại sứ trong ngoại giao đoàn và đông đảo các tín hữu ngồi chật bên trong đền thờ.

Tuyên bố của Hội đồng Toà Thánh về Công lý và Hoà bình nhấn mạnh rằng nhiều người nghĩ rằng chế độ nô lệ là chuyện của quá khứ. Nhưng trong thực tế, cơn dịch này của xã hội vẫn còn quá hiển nhiên trong thế giới ngày nay.

Chủ đề của ngày hòa bình thế giới năm nay là một câu trích từ thư thánh Phaolô gửi ông Philomeno (1,15-16). Sứ điệp gồm 2 phần: Phần đầu Đức Thánh Cha nói về những khía cạnh đa dạng của nạn nô lệ trong quá khứ và ngày nay, và nhắc đến những nguyên nhân sâu xa của chúng. Trong phần thứ II ngài khuyến khích tìm ra những giải pháp chung để bài trừ nạn nô lệ mà ngài gọi “một hiện tượng đáng kinh tởm”.

Ngày Hòa Bình Thế Giới do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khởi xướng, được cử hành vào ngày đầu năm mỗi năm. Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới của Đức Thánh Cha được gửi đến các Bộ trưởng Ngoại giao tất cả các quốc gia trên thế giới và cũng cho thấy đường lối ngoại giao của Toà Thánh trong năm sắp tới.

3. Đức Thánh Cha kêu gọi củng cố tự do tôn giáo

Trong buổi đọc kinh Truyền Tin lễ thánh Stephano tử đạo trưa ngày 26 tháng 12, Đức Thánh Cha nhắc đến con số đông đảo các tín hữu Kitô và các vị chủ chăn đã chịu tử đạo trong năm 2014 và cầu nguyện để máu các vị gây nên ý thức về tình trạng bách hại tôn giáo trầm trọng trên thế giới ngày nay và các nhà cầm quyền dấn thân củng cố quyền tự do tôn giáo trên thế giới.

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, với sự tham dự của 20 ngàn người, Đức Thánh Cha nhận xét rằng qua cuộc tử đạo của mình, thánh Stephano tôn vinh biến cố giáng thế của Vua các vua, dâng hiến cho Chúa chính mạng sống của mình, và chỉ cho chúng ta cách sống trọn vẹn mầu nhiệm Giáng Sinh.

Đức Thánh Cha nhắc đến sự kiện trong bài Phúc Âm ngày lễ cùng ngày có câu Chúa nói: “Các con sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Nhưng ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát” (Mt 10,22). Những lời này của Chúa không làm xáo trộn việc cử hành lễ Giáng Sinh, nhưng thanh tẩy việc cử hành lễ này khỏi những lớp bọc đường giả tạo không thuộc về ngày lễ. Lời Chúa giúp chúng ta hiểu rằng trong những thử thách chấp nhận vì đức tin, bạo lực bị tình yêu đánh bại, sự sống chiến thắng sự chết.”

Đức Thánh Cha giải thích rằng:

“Để thực sự đón nhận Chúa Giêsu trong cuộc sống của mình và kéo dài niềm vui đêm Giáng Sinh, con đường phải theo chính là con đường mà Phúc Âm hôm nay chỉ dẫn, đó là làm chứng cho Chúa Giêsu trong sự khiêm tốn, trong việc phục vụ âm thần, không sợ đi ngược dòng và trả giá bằng chính mạng sống mình. Tuy không phải mọi người đều được kêu gọi đổ máu như thánh Stephano, nhưng mỗi Kitô hữu đều được kêu gọi sống phù hợp với đức tin mình tuyên xưng trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Theo Tin Mừng chắc chắn là con đường khó khăn, nhưng ai trung thành và can đảm bước theo con đường ấy, thì được hồng ân Chúa đã hứa cho những người nam nữ thiện chí”.

Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu đặc biệt cầu nguyện cho những người đang bị kỳ thị, bị bách hại và bị giết vì làm chứng cho Chúa Kitô: “Tôi muốn nói với mỗi người trong số họ: nếu anh chị em vác thập giá này với lòng yêu mến, thì anh chị em sẽ được bước vào mầu nhiệm Giáng Sinh, anh chị em ở trong con tim của Chúa Kitô và Giáo Hội.

Ngoài ra chúng ta cũng hãy cầu nguyện để nhờ sự hy sinh của đông đảo các vị tử đạo ngày nay, khắp nơi trên thế giới có sự gia tăng nỗ lực nhìn nhận và bảo đảm tự do tôn giáo một cách cụ thể, đây là một quyền bất khả nhượng của mỗi người”.

4. Đức Thánh Cha thành lập một giáo phận mới tại Ấn Độ

Hôm 22 tháng 12, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố sắc lệnh thành lập giáo phận Kuzhithurai, tách ra từ giáo phận Kottar và bổ nhiệm cha Jerome Dhas Varuvel, thuộc dòng Don Bosco làm Giám Mục tiên khởi.

Giáo phận tân lập rộng 915 km vuông với 855,500 dân trong đó 264,500 người Công Giáo, 101 linh mục triều, 30 linh mục dòng, 267 nữ tu và 73 chủng sinh.

Giáo phận Kottar sau khi chia lại địa giới rộng 750 km vuông với 855,800 dân trong đó 260,500 người Công Giáo, 193 linh mục triều, 37 linh mục dòng, 471 nữ tu và 93 chủng sinh.

Đức tân Giám Mục đã được thụ phong linh mục ngày 2 tháng 6 năm 1985 bởi chính tay Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khi ngài sang thăm Ấn Độ.

5. Đức Thánh Cha gởi thông điệp cho người Hàn quốc và gọi điện cho người tị nạn Iraq

Hôm 24 tháng 12, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi một video cho người Công Giáo ở Hàn Quốc. Đức Thánh Cha đã tới thăm Hàn Quốc trong tháng Tám vừa qua. Trong video, Đức Thánh Cha nói: "Tôi cầu xin cùng để ánh sáng, tỏa sáng thế giới từ Hài Nhi tại Bethlehem, luôn luôn hiện diện trong con tim anh chị em, trong gia đình và cộng đồng của anh chị em."

Sau đó, ngài đã gọi điện cho một trung tâm dành cho người tị nạn Iraq tại vùng tự trị của người Kurd ở phía Bắc Iraq. Trong cuộc đàm đạo, Đức Thánh Cha nói:

"Anh chị em giống như Chúa Giêsu vào đêm giáng sinh, và khi Chúa đã bị buộc phải tị nạn. Anh chị em giống như Chúa Giêsu trong những tình huống như thế này. Chúng tôi sẽ cầu nguyện nhiều hơn cho anh chị em."

6. 15 căn bệnh của giáo triều Roma cần chữa trị

Trong buổi tiếp kiến sáng ngày 22 tháng 12 dành cho các vị lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh, Đức Thánh Cha Phanxicô liệt kê 15 thứ bệnh cần bài trừ khỏi những người phục vụ tại giáo triều Roma.

Khoảng 60 Hồng Y và 50 Giám Mục cùng với nhiều giám chức, linh mục và giáo dân lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh đến chúc mừng ngài nhân dịp lễ Giáng Sinh và năm mới.

Mở đầu, Đức Hồng Y Angelo Sodano, 87 tuổi, niên trưởng Hồng Y đoàn, đại diện mọi người chúc mừng Đức Thánh Cha và cho biết toàn thể các cộng tác viên thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh hứa hỗ trợ và cộng tác hoàn toàn với Đức Thánh Cha trong việc phục vụ tình hiệp nhất của Giáo Hội và hòa bình giữa các dân tộc. Đức Hồng Y cũng nói rằng tại Vatican mọi người, trong các nhiệm vụ khác nhau, hiệp nhất và dấn thân phục vụ Đức Thánh Cha và Giáo Hội.

Lên tiếng trong dịp này, sau khi gửi lời chúc mừng và cám ơn sự cộng tác của mọi người trong giáo triều Roma, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến sự kiện các cơ quan trung ương Tòa Thánh họp thành một cơ thể duy nhất, và cũng như mọi cơ thể, có thể có những bệnh tật cần được chữa lành. Trong ý hướng chuẩn bị tâm hồn, xưng tội, để đón mừng Chúa Giáng Sinh, Đức Thánh Cha đã liệt kê một loạt những căn bệnh mà những vị làm việc trong giáo triều Roma có thể mắc phải và cần phải thanh tẩy. Ngài nói:

”Giáo triều được kêu gọi cải tiến, luôn cải tiến và tăng trưởng trong tình hiệp thông, thánh thiện và khôn ngoan để chu toàn sứ mạng. Nhưng giáo triều, cũng như mỗi thân thể con người, cũng có thể bị bệnh, hoạt động không tốt, bị yếu liệt. Và ở đây tôi muốn liệt kê vài căn bệnh có thể, những bệnh của giáo triều. Đó là những bệnh thường xảy ra trong đời sống của giáo triều chúng ta. Đó là những bệnh tật và cám dỗ làm suy yếu việc phục vụ của chúng ta đối với Chúa. Tôi nghĩ rằng ”danh sách” các bệnh này sẽ giúp chúng ta, như các Đấng Tu Hành trong sa mạc vẫn thường làm danh sách mà chúng ta nói đến hôm nay: danh sách này giúp chúng ta chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hòa giải, là một bước tiến tốt cho tất cả chúng ta để chuẩn bị lễ Giáng Sinh.

Đức Thánh Cha đã liệt kê 15 thứ bệnh, trước tiên là bệnh tưởng mình là bất tử, miễn nhiễm, hoặc thậm chí là không thể thiếu được, và lơ là những kiểm điểm cần thiết và thông thường. Một bệnh khác là bệnh Marta, đến từ tên Marta, làm việc thái quá: tức là những người chìm đắm trong công việc, và lơ là với phần tốt hơn, là ngồi bên chân Chúa Giêsu. Cũng có thứ bệnh “chai cứng” tâm trí và tinh thần: nghĩa là bệnh của những người có tâm hồn chai đá. Rồi đến bệnh kế hoạch hóa thái quá và duy hiệu năng. Các bệnh tiếp theo là phối hợp kém, “suy thoái não bộ tinh thần”, hay là quên đi “lịch sử cứu độ”, lịch sử quan hệ bản thân với Chúa, quên đi mối tình đầu; bệnh cạnh tranh và háo danh; bệnh tâm thần phân liệt trong cuộc sống. Đó là bệnh của những người sống hai mặt, hậu quả của sự giả hình về sự tầm thường và dần dần trở nên trống rỗng về tinh thần mà các văn bằng tiến sĩ hoặc các bằng cấp khác không thể lấp đầy được. Rồi đến các bệnh khác như bệnh 'ngồi lê đôi mách', lẫm bẩm và nói hành; bệnh thần thánh hóa giới lãnh đạo; bệnh dửng dưng đối với người khác; bệnh có bộ mặt đưa đám; bệnh tích trữ; bệnh của những nhóm khép kín, trong đó sự thuộc về một nhóm nhỏ trở nên mạnh hơn thuộc về cả thân mình và trong một số trường hợp, mạnh hơn thuộc về chính Chúa Kitô. Sau cùng là bệnh tìm kiếm lợi lộc trần tục và phô trương.

Đức Thánh Cha nhận xét rằng những căn bệnh và cám dỗ ấy cũng là nguy cơ của mỗi Kitô hữu, mỗi giáo xứ, cộng đoàn, dòng tu, các phong trào Giáo Hội, trên bình diện cá nhân và cộng đoàn.

Ngài mời gọi tất cả mọi người hãy sống theo chân lý trong sự thật, nhất là trong mùa Giáng Sinh này, hãy chuẩn bị xưng tội và xin Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội, chữa lành mọi vết thương tội lỗi mà mỗi người chúng ta mang trong tâm hồn, và xin Mẹ nâng đỡ Giáo Hội và giáo triều để tất cả được lành mạnh, thánh thiện và thánh hóa, hầu tôn vinh Con của Mẹ và để cứu độ chúng ta và toàn thế giới.

Sau bài diễn văn, Đức Thánh Cha đã đích thân đến bắt tay chúc mừng các Hồng Y đứng thành hình vòng cung ở sảnh đường Clemente trong dinh Tông Tòa, và tiếp đến, các GM cũng như các giám chức, các linh mục khác và các giáo dân ở vị trí lãnh đạo, đến trước Đức Thánh Cha để chúc mừng và bắt tay ngài.

7. Thư Đức Thánh Cha gửi các tín hữu Kitô Trung Đông

Trong thư công bố hôm 23 tháng 12, gửi các tín hữu Kitô Trung Đông, nhân dịp lễ Giáng Sinh, Đức Thánh Cha nhắc đến những đau khổ các tín hữu Kitô ở miền này phải chịu trong quá khứ gần đây, đặc biệt là những nạn nhân của tổ chức khủng bố ở mức độ không thể tưởng tượng được, với những lạm dụng đủ loại và những hành động không xứng đáng với con người. Đức Thánh Cha không quên nhiều nhóm tôn giáo và chủng tộc thiểu số khác cũng chịu bách hại và những hậu quả tương tự của các cuộc xung đột. Ngài viết:

“Đau khổ này kêu thấu tới Thiên Chúa và kêu gọi mọi người hãy dấn thân, trong kinh nguyện và mọi sáng kiến khác.. Anh chị em thân mến, tôi khuyến khích anh chị em hãy tiếp tục gắn bó với Chúa Giêsu, như ngành gắn liền với thân cây nho, với xác tín mạnh mẽ rằng dù sầu muộn, lo âu hay bách hại cũng không thể tách rời anh chị em ra khỏi Chúa” (Xc Rm 8,35). Ước gì thử thách anh chị em đang trải qua củng cố niềm tin và lòng trung thành của tất cả anh chị em!”.

Đức Thánh Cha cũng cầu xin Chúa cho các tín hữu Kitô Trung Đông có thể sống tình hiệp thông huynh đệ theo gương cộng động Kitô đầu tiên ở Jerusalem. “Sự hiệp nhất như Chúa chúng ta mong muốn là điều cần thiết hơn bao giờ hết trong những lúc khó khăn này; đó là một hồng ân của Thiên Chúa, đang gọi hỏi tự do và chờ đợi câu trả lời của chúng ta. Ước gì Lời Chúa, các bí tích, kinh nguyện, tình huynh đệ, nuôi dưỡng và liên tục đổi mới các cộng đoàn của anh chị em”.

Đức Thánh Cha cũng nhận định rằng “Tình trạng anh chị em đang sống là một lời kêu gọi mạnh mẽ hãy sống thánh thiện, như các thánh và các vị tử đạo thuộc mọi hệ phái Giáo Hội làm chứng”. Trong bối cảnh này, Đức Thánh Cha nhắc đến một số Giám Mục Chính Thống và linh mục thuộc các nghi lễ khác nhau đã bị bắt cóc và cầu mong các vị sớm được trở về nhà và cộng đoàn của mình bình an vô sự”.

Trong thư, Đức Thánh Cha tiếp tục kêu gọi cộng đồng quốc tế cứu giúp và đáp ứng nhu cầu của các tín hữu Kitô và các cộng đồng thiểu số khác đang chịu đau khổ. Ngài viết: “Trước tiên cần cổ võ hòa bình nhờ thương thuyết và hoạt động ngoại giao, tìm cách ngăn chặn bạo lực càng sớm càng tốt đang gây ra quá nhiều thiệt hại. Tôi tái lên án nạn buôn bán võ khí. Đúng hơn, chúng ta đang cần những dự án và sáng kiến hòa bình để thăng tiến một giải pháp toàn diện cho các vấn đề của vùng Trung Đông. Cho đến bao giờ Trung Đông còn phải chịu đau khổ vì thiếu hòa bình? Chúng ta không thể cam chịu những cuộc xung đột như thể đó là điều không thể thay đổi được!.. Ước gì việc cứu trợ nhân đạo được gia tăng, đặt thiện ích của con người và mỗi quốc gia ở vị thế trung tâm, trong niềm tôn trọng căn tính của họ, không đặt những lợi lộc khác lên trên. Ước gì toàn thể Giáo Hội và Cộng đồng quốc trể ngày càng ý thức về tầm quan trọng của anh chị em Kitô ở vùng Trung Đông!

8. Đức Thánh Cha nhắn nhủ các nhân viên Tòa Thánh và Vatican

Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi các nhân viên Tòa Thánh và Vatican chăm sóc đời sống thiêng liêng, gia đình, tương quan với tha nhân, công việc làm và các anh chị em yếu đuối.

Đây là những lời nhắn nhủ ngài đưa ra trong buổi tiếp kiến khoảng 2 ngàn nhân viên cấp thừa hành của Tòa Thánh và Quốc gia thành Vatican trưa ngày 22 tháng 12, sau buổi tiếp kiến các vị lãnh đạo của các cơ quan trung ương Tòa Thánh.

Hiện diện tại Đại thính đường Phaolô Đệ Lục trong buổi tiếp kiến cũng có con cái và gia đình của các nhân viên. Đức Thánh Cha nói:

“Trước tiên anh chị em cần chăm sóc đời sống thiêng liêng, quan hệ với Thiên Chúa, vì “đây là cột sống của tất cả những gì chúng ta làm, và toàn thể cuộc sống của chúng ta. Một Kitô hữu không nuôi dưỡng mình bằng kinh nguyện, các bí tích và Lời Chúa, thì chắc chắn sẽ suy nhược và khô cằn”.

Tiếp đến cần chăm sóc đời sống gia đình, không phải chỉ dành tiền bạc cho con cái và những người thân yêu, nhưng nhất là dành thời gian, sự quan tâm và tình yêu thương. Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “gia đình là một kho tàng quí giá, con cái là kho tàng. Một câu hỏi mà các cha mẹ trẻ có thể đặt ra cho mình: ‘Tôi có thời giờ để chơi với con cái tôi hay không, hay là tôi luôn bận rộn, không có giờ cho con cái của tôi?”.

Thứ ba là chăm sóc quan hệ với người khác, “biến đức tin trong cuộc sống và lời nói thành những việc lành, nhất là đối với những người túng thiếu nhất”. Cần chăm sóc lời nói, “thanh tẩy miệng lưỡi mình khỏi những lời xúc phạm, những lời phàm tục, sa đọa”. “Chữa trị những vết thương tâm hồn bằng dầu tha thứ, tha thứ cho những người đã xúc phạm đến chúng ta và chữa lành những vết thương chúng ta đã gây ra cho người khác”.

Cũng trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nhắn nhủ các nhân viên Tòa Thánh và Quốc gia thành Vatican hãy chăm sóc công việc làm, chu toàn với tất cả sự hăng say, lòng khiêm và khả năng chuyên môn, với tâm hồn biết ơn Thiên Chúa. Tiếp đến cần chữa trị tính ghen tương, tham lam, ghen ghét, những tâm tình tiêu cực hủy hoại an bình nội tâm khiến chúng ta thành những người bị hủy hoại và tạo nên sự hủy hoại cho người khác”.

Đức Thánh Cha kêu gọi các nhân viên hãy chữa trị sự oán hận đưa chúng ta đến sự trả thù, sự lười biếng khiến chúng ta làm cho cuộc sống tàn lụi, thái độ chỉ tay chỉ trích đưa chúng ta đến sự kiêu hãnh, thái lộ luôn than phiền đưa chúng ta đến tuyệt vọng. Đức Thánh Cha nói:

“Tôi biết nhiều khi để bảo vệ công ăn việc làm, người ta nói xấu người khác, để tự vệ. Tôi hiểu những tình trạng ấy, nhưng con đường này không đưa tới điều tốt lành, rốt cuộc tất cả chúng ta đều bị tổn hại”.

Đức Thánh Cha nhắn nhủ mọi người hãy chăm sóc những anh chị em yếu đuối. Ngài nói: “Tôi đã thấy bao nhiêu gương tốt lành nơi anh chị em. Tôi khen ngợi và cám ơn anh chị em. Nghĩa là chăm sóc ngừơi già, người bệnh, người đói, những người vô gia cư và những người ngoại kiều, vì vào cuối đời chúng ta sẽ bị xét xử về đức bác ái”.

Sau cùng, Đức Thánh Cha nhắn nhủ các nhân viên Tòa Thánh chú ý đến lễ Giáng Sinh, để lễ này không bao giờ trở thành dịp để tiêu thụ thương mại, chỉ có vẻ bề ngoài, hoặc là dịp mua sắm những món quà vô ích, dịp để phung phí, nhưng là lễ an vui, đón nhận Chúa trong máng cỏ và trong tâm hồn”

9. Biến cố lớn nhất trong năm 2014 là tai ương khủng bố thánh chiến tại Iraq và Syria

Kết thúc một năm, các nhà báo trên thế giới đều bình chọn xem đâu là biến cố nổi bật nhất trong năm. Một con số áp đảo các ký giả đã cho rằng đó là tai ương khủng bố thánh chiến tại Iraq và Syria.

Với những lời lẽ mạnh nhất, tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã kêu gọi “một nỗ lực chung để loại bỏ cái ‘ung thư’ khủng bố thánh chiến ở Iraq và Syria” trong thông điệp gởi quốc dân Hoa Kỳ lúc 12:45 trưa thứ Tư 20 tháng 8. Ông hứa hẹn Hoa Kỳ sẽ làm hết mọi khả năng để đưa những kẻ khủng bố ra trước công lý. Trong khi đó, Bộ trưởng Ngoại giao, John Kerry, cũng nói bọn khủng bố Hồi Giáo IS "phải bị tiêu diệt". Đó là phản ứng của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ sau khi bọn khủng bố Hồi Giáo IS đã chặt đầu ký giả Công Giáo người Mỹ James Foley.

Tuy nhiên, người ta cũng không thể quên rằng “Đầu năm nay, Tổng thống Obama so sánh quân khủng bố trong cái gọi là Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria với một đội bóng rổ mới tập tễnh, một nhóm chẳng thể gây ra đe dọa nào như Osama bin Laden và al-Qaeda đã từng gây ra trước đây. Mặc dù, các cố vấn an ninh quốc gia thường xuyên nhắc nhở tổng thống rằng IS là một ‘mối đe dọa sắp xảy ra cho tất cả lợi ích của chúng ta,’ và Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel khẳng định rằng ‘Bọn này vượt xa bất cứ thứ khủng bố nào chúng ta đã từng thấy.”"

Ít nhất là trong 8 tháng đầu năm nay, bọn khủng bố đã được tự do tha hồ muốn làm gì thì làm dẫn đến sự thất thủ của hàng loạt các thành phố lớn của Iraq và Syria, quan trọng nhất là Mosul, vùng bình nguyên Ninivê và Raqah.

Hoa Kỳ chỉ đưa ra hành động sau khi thủ phủ Erbil sắp lọt vào tay quân khủng bố, đe doạ trực tiếp mạng sống của đại sứ Hoa Kỳ và các nhân viên ngoại giao tại Iraq và thảm họa nhân đạo ở núi Sinjar đã xảy ra.

Việc kết nạp hàng loạt các cựu quan chức của Saddam, trong đó không thiếu những sĩ quan thuộc lực lượng Vệ Binh Cộng Hoà, cộng với nhiều năm chiến đấu ở Syria, đã làm cho chiến thuật của bọn khủng bố Hồi Giáo sắc sảo hơn so với hầu hết các đối thủ trên chiến trường. Ngày nay ½ nước Iraq và 1/3 nước Syria lọt vào tay chúng.

Không chỉ hoành hành tại Iraq và Syria, khủng bố Hồi Giáo còn tấn công ở nhiều nơi trên thế giới. Tiêu biểu là lúc 10h sáng thứ Hai 15/12, cờ IS tung bay tại Sydney khi một người tự xưng là giáo sĩ Hồi Giáo Iran, tên là Man Haron Monis, bắt giữ 17 người làm con tin trong tiệm cà phê Lindt, ở khu Martin Place là khu trung tâm của Sydney. Sau 16 giờ giằng co, 3 người bị thiệt mạng.

Tờ La Civiltà Cattolica nhận định rằng: "Không nên nhầm lẫn hoặc giản lược cuộc chiến này với các cuộc chiến khác, chẳng hạn như những cuộc chiến đấu tranh và thanh trừng giai cấp do những người Bolshevik hoặc nhóm Khmer Đỏ gây ra. Những cuộc chiến đó nhằm tận diệt tôn giáo, trong khi cuộc chiến hiện nay lợi dụng sức mạnh của tôn giáo trong một cách thế nguy hiểm hơn gấp bội so với al-Qaeda. "

Giáo Hội có nghĩa vụ gióng lên trước cộng đồng thế giới tiếng kêu cứu của các nạn nhân của một thảm kịch nhân đạo mà nhân loại không thể phớt lờ được nữa. Cách riêng, cộng đồng Hồi giáo trên toàn thế giới phải có nhiệm vụ tiêu diệt trong trái tim của tất cả những người Hồi giáo một quan niệm cực đoan về Kinh Qur'an và các truyền thống Hồi giáo quá khích là nguyên nhân và yếu tố nuôi dưỡng cho cuộc chiến hiện nay.

10. Đức Thánh Cha bày tỏ nỗi buồn trước tai nạn máy bay của Air Asia

Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 28 tháng 12, Đức Thánh Cha đã bày tỏ nỗi buồn trước tai nạn máy bay xảy ra tại Indonesia và vụ hỏa hoạn trên chuyến phà của Ý trên biển Adriatico. Ngài nói:

Anh chị em thân mến, trong lúc này đây tôi nghĩ tới các hành khách chuyến bay của hãng hàng không Air Asia bị mất tích trong khi bay từ Indonesia sang Singapore, cũng như các hành khách bị tai nạn trên con tàu đang di chuyển trên biển Adriatico. Trong sự trìu mến và lời cầu nguyện tôi gần gũi với gia đình các nạn nhân và những ai đau khổ vì các trạng huống khó khăn này, cũng như những người dấn thân trong công tác cứu trợ.

Chiếc Airbus A320 trong chuyến bay QZ8501 của Air Asia từ Indonesia đi Singapore đã biến mất khỏi màn hình radar vào sáng sớm Chúa Nhật 28 Tháng 12 trên Biển Java, ở phía đông bắc của Jakarta. Trên máy bay có 162 người gồm 137 người lớn, 17 trẻ em và một trẻ sơ sinh cùng 7 thành viên phi hành đoàn.

Máy bay cất cánh từ Surabaya lúc 5:35 giờ địa phương và được dự trù đáp xuống Singapore lúc 8:30. Đài kiểm soát không lưu ở Jakarta đã mất liên lạc với chiếc máy bay lúc 06 giờ 18 phút giờ địa phương

Chiếc Airbus A320 đã được Air Asia sử dụng từ năm 2008, đã bay được 13,600 chuyến với tổng số 23,000 giờ bay và mới được tu bổ hồi tháng 11. Phi công chính trên chuyến bay này đã bay được 20,500 giờ bay.

11. Trong thông điệp Giáng Sinh, Toà Thượng phụ Giêrusalem chỉ trích mọi hình thức bạo lực

Kết thúc một năm với sự chứng kiến chuyến tông du của Đức Thánh Cha đến Thánh Địa, cuộc chiến ở Gaza và bạo lực lại tiếp diễn ở Giêrusalem, thông điệp Giáng Sinh của Đức Thượng Phụ Công Giáo nghi lễ Latin Fouad Twal lên án tất cả các hình thức bạo lực. Đức Thượng Phụ phải đến Amman đột xuất hôm 18 tháng 12, cho nên thông điệp của ngài đã được Đức Giám Mục phụ tá William Shomali công bố.

Thông điệp viết: "Chúng tôi lên án cuộc chiến Gaza và lấy làm tiếc về hậu quả nghiêm trọng của nó, giết chóc và phá hoại, đồng thời chúng tôi lên án mọi hình thức bạo lực và trả đũa người vô tội như việc giết hại những người cầu nguyện trong một giáo đường Do Thái và các cuộc tấn công vào các thánh đường Hồi giáo. Thật không may, Thành thánh Giêrusalem yêu dấu của chúng ta đã chảy máu và nước mắt. Chúng tôi không muốn bất kỳ loại đối kháng tôn giáo nào xảy ra tại Thành thánh vốn được gọi là thành phố của hòa bình và chung sống liên tôn". Đức Thượng Phụ yêu cầu các vị lãnh đạo Israel và Palestine phải "tìm kiếm và tạo điều kiện cho một giải pháp" và cộng đồng quốc tế cũng phải có trách nhiệm giúp hai bên giải quyết vấn đề.

12. Giới trẻ Taizé gặp nhau tại Prague

Cuộc họp mặt quốc tế thường niên của Cộng Đoàn Đại Kết Taizé được tổ chức vào những ngày cuối năm tại một thành phố Âu Châu được chọn. Năm nay Giới Trẻ Âu Châu tiến về thủ đô Prague của Tiệp từ ngày 29 tháng 12 đến ngày 05 tháng Giêng, đây là cuộc họp mặt lần thứ 36 của phong trào này. Trong những năm vừa qua các bạn trẻ quốc tế đã họp mặt tại Berlin, Paris, Budapest, Barcelona, Hamburg, Rotterdam, Lisabon..

Cộng Đoàn Đại Kết Taizé tổ chức các cuộc gặp gỡ này từ năm 1978.

Taizé là một thị trấn nhỏ của miền Nam Pháp gần thành phố Cluny ở vùng Bourgogne và là Trung Tâm Cầu Nguyện Đại Kết của các Sư Huynh Taizé. Hiện nay có khoảng 100 Sư Huynh thuộc Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Tin Lành từ hơn 25 quốc gia khác nhau chung sống tại đây.

Mỗi năm có khoảng 200,000 Bạn Trẻ hành hương đến với cộng đồng đại kết của Taizé tại Pháp. Năm 1949 Sư Huynh Roger Schutz (1915-2005), một thần học gia Tin Lành, sinh trưởng tại Thụy Sĩ đã thành lập Cộng Đồng Đức Tin của Taizé và là Tu viện Trưởng cho đến năm 2005 khi bị sát hại trong giờ cầu nguyện tối ngày 16/8/2005 trong nhà nguyện của Taizé, cùng thời gian khai mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2005 tại Köln, hưởng thọ 90 tuổi.

Sư Huynh Alois, là một tu sĩ Công Giáo, năm nay 54 tuổi, người Đức, được bầu vào chức vụ kế vị Tu viện Trưởng cho đến nay.

13. Giáng Sinh là dịp để liên đới với các nạn nhân của vụ thảm sát ở Peshawar

Đối với các Kitô hữu ở Pakistan, Giáng Sinh năm 2014 được ghi dấu bằng những lời cầu nguyện và những khoảnh khắc của tình liên đới với các nạn nhân của vụ thảm sát ở Peshawar, nơi Taliban đã sát hại 149 người trong đó có 132 trẻ em trong một ngôi trường do quân đội quản lý. Nhiều nhà thờ đã đặt lên bàn thờ hình ảnh của các nạn nhân và thắp sáng những ngọn nến.

Đức Tổng Giám Mục Joseph Coutts, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Pakistan, đã đưa ra lời mời gọi các cộng đoàn Kitô giáo suy tư về thông điệp của niềm hy vọng và bình an mà Lễ Giáng Sinh mang lại.

Trong một bức thư gửi đến hãng thông tấn xã Công Giáo Fides, Peter Jacob, một nhà hoạt động Công Giáo về nhân quyền, cho biết 11 giáo xứ và một số nhà thờ ở thành phố Lahore đã quyết định hủy bỏ hoặc hoãn lại một số chương trình và hoạt động đã được lên kế hoạch để mừng Giáng Sinh cho đến sau ngày 01 tháng Giêng.

Theo thầy phó tế Shahid Mehraj của Nhà thờ chính tòa Lahore, "người ta đau đớn và âu lo" về những gì được xem là "một cuộc tấn công vào tương lai của Pakistan". Thầy nói thêm Lễ Giáng Sinh, "chúng tôi sẽ dành một buổi thắp nến đặc biệt cầu nguyện cho những người thiệt mạng trong cuộc tấn công vừa qua". Thầy chỉ ra những điểm tương đồng của biến cố Giáng Sinh với bối cảnh Pakistan ngày nay: "Giáng Sinh mang đến một thông điệp hy vọng cho thế giới. Sự ra đời của Chúa Kitô cũng được đánh dấu bằng một vụ thảm sát trẻ em vô tội của vua Hêrôđê. Trong bối cảnh đổ máu này, Chúa Kitô được sinh ra như là một biểu tượng của niềm hy vọng". Thầy đi đến kết luận: "Giờ là thời điểm để loan báo thông điệp của tình yêu và tình huynh đệ ở Pakistan".

14. Đức Thánh Cha bổ nhiệm Đức Cha Coyne làm Giám mục Giáo phận Burlington, Hoa Kỳ

Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm Đức Giám Mục phụ tá Christopher James Coyne của Indianapolis trở thành Tân Giám mục của Burlington, bang Vermont, Hoa Kỳ.

Đức Giám Mục Coyne, sinh ngày ngày 17/06/1958 tại Woburn, Massachusetts. Ngài tốt nghiệp bằng Cử nhân Quản trị Kinh doanh của Đại học Lowell (nay là Đại học UMass-Lowell) vào năm 1980. Ngài gia nhập Chủng viện Thánh Gioan Brighton Massachusetts vào mùa thu năm 1981 và được phong chức linh mục của Tổng Giáo Phận Boston vào ngày 07/06/1986.

Ngài được phân công về nhà thờ St. Mary thuộc giáo xứ Hills ở Milton Massachusetts cho đến khi được gửi đi tu học vào tháng 5 năm 1989. Sau khi tu học ở Học viện Phụng vụ Giáo Hoàng Thánh Anselmo ở Rôma, Ý, ngài đạt được bằng Phụng vụ Thánh vào năm 1992 và đạt bằng tiến sĩ vào năm 1994. Quay trở lại Hoa Kỳ vào năm 1994, cha Coyne được bổ nhiệm làm giáo sư về phụng vụ và thuyết giảng của Chủng viện Thánh Gioan ở Brighton.

Năm 2001, ngài được bổ nhiệm làm Giám đốc Văn phòng Phụng tự của Tổng Giáo phận Boston, trong khi vẫn giảng dạy ở Chủng viện Thánh Gioan. Khi cuộc khủng hoảng giáo sĩ lạm dụng tính dục nổ ra vào tháng Giêng năm 2002, Cha Coyne đảm nhận vai trò phát ngôn viên truyền thông của Tổng giáo phận và sau đó được bổ nhiệm làm Tổng thư ký về Truyền thông vào tháng 5 năm 2002.Ngài phục vụ trên cương vị thư ký và phát ngôn viên truyền thông cho đến tháng 5 năm 2005.

Ngài được bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá của Indianapolis vào ngày 14/01/2011 và được tấn phong giám mục vào ngày 02/03/ 2011. Vào ngày 21/09/2011, ngài được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa của Tổng Giáo phận Indianapolis, ngài phục vụ trên cương vị này cho đến khi Đức Tổng Giám Mục Joseph W. Tobin được bổ nhiệm vào ngày 03/12/ 2014. Ngài hiện đang phục vụ cho Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ trong Ủy ban Truyền giáo và Giáo lý, và đại diện cho Tiểu ban Chứng nhận đủ tiêu chuẩn hoạt động Mục vụ và các sứ vụ trong Giáo Hội.

15. Các Giáo Hội Kitô giáo Ấn Độ lên tiếng về cấm cải đạo

Các Giáo Hội Kitô giáo của Ấn Độ đã bày tỏ "lo ngại sâu sắc" về hoàn cảnh hiện nay của các nhóm thiểu số trong nước, nhất là các Kitô hữu.

Diễn đàn Liên minh Kitô giáo Quốc gia (NUCF) bao gồm ba tổ chức Giáo Hội hàng đầu của Ấn Độ là Hội đồng Giám mục Công Giáo Ấn Độ (CBCI), Hội đồng quốc gia các Giáo Hội Ấn Độ (NCCI) và Hội thánh Tin lành Ấn Độ (EFI) đã đưa ra một tuyên bố chung hôm Chúa Nhật 21/12. Họ dẫn ra các vụ việc và các hành động khiêu khích như buộc một trường học Công Giáo ở Bastar phải đặt tượng nữ thần Hindu, Saraswati, vụ đốt một nhà thờ ở Delhi; việc công bố 'Ngày Quản trị tốt' vào 25 tháng 12 để làm suy yếu tầm quan trọng của Lễ Giáng Sinh; và một số phần tử quá khích kêu gọi cải đạo 4,000 Kitô hữu sang Ấn giáo vào dịp Giáng Sinh.

Các Giáo Hội phản đối mạnh mẽ lời kêu gọi cấm cải đạo trên toàn quốc của Bộ trưởng Rajya Sabha vì điều đó sẽ dẫn đến cuộc tấn công trực tiếp vào tự do lương tâm cá nhân được lựa chọn đức tin của mình và sự tự do tuyên xưng, thực hành và lan truyền đức tin của con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Các đại diện Giáo Hội nhắc lại rằng Kitô Giáo cấm cải đạo bằng vũ lực hoặc bằng các phương tiện lừa dối và hoàn toàn ủng hộ chính phủ có hành động thích hợp đối với bất kỳ ai vi phạm các quy định của pháp luật nghiêm ngặt hiện hành. Các Giáo Hội kêu gọi Thủ tướng Narendra Modi nhắc nhở tất cả người dân rằng sự phát triển không thể diễn ra bằng cách phá vỡ sự hài hòa mang tính hòa bình. Các Giáo Hội Kitô giáo Ấn Độ tuyên bố rằng họ không thể đóng góp vào sự phát triển của quốc gia nếu bị quấy rối và bị dán nhãn là chống quốc gia.

16. Tổng Giáo phận Dakar, Senegal có Tân Tổng Giám mục kế vị Đức Hồng Y Sarr

Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp nhận đơn xin về hưu vì lý do tuổi tác của Đức Hồng Y Théodore-Adrien Sarr của Tổng Giáo Phận Dakar, Senegal theo Giáo luật 401 triệt 1. Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm Đức Giám Mục Benjamin Ndiaye, hiện là Giám mục của Kaolack, trở thành Tân Tổng Giám mục của Dakar.

Đức Hồng Y Théodore-Adrien Sarr được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục của Dakar vào ngày 02/06/ 2000, trước đó ngài là giám mục của Kaolack. Vào thời điểm đó, ngài kế vị Đức Hồng Y Hyacinthe Thiandoum, vị Giám mục người Senegal đầu tiên và là vị Hồng Y đầu tiên của đất nước này.

Đức Hồng Y Sarr được vinh thăng Hồng Y trong công nghị Hồng Y ngày 24/11/2007 do Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI triệu tập. Năm 2008, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm Đức Hồng Y Sarr trở thành thành viên của Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích. Sau đó, vào năm 2009 Đức Hồng Y Sarr được bổ nhiệm làm thành viên Chủ tịch đoàn Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa Đặc biệt về Phi Châu. Đây là Thượng Hội đồng Giám mục thứ hai về Phi Châu do Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI triệu tập vào tháng 10 năm 2009.

Đức Tân Tổng Giám mục Benjamin Ndiaye của Dakar là đại diện cho miền Tây Nam Phi Châu tham dự Thượng Hội đồng Giám mục khóa Ngoại thường về Gia đình đã được tổ chức tại Rôma vào tháng Mười vừa qua. Ngài đã tham dự Thượng Hội đồng Giám mục với tư cách là Chủ tịch Hội đồng Giám mục của miền Tây Nam Phi Châu bao gồm các nước Senegal, Mauritania, Cape Verde và Guinea-Bissau.

Đức Tổng Giám mục Benjamin Ndiaye sinh năm 1948 tại Senegal và được thụ phong linh mục năm 1977. Ngài trở thành Giám mục của Kaolack vào ngày 30 tháng 6 năm 2001. Vào thời điểm được tấn phong Giám mục, ngài là Tổng Đại Diện của Giáo Phận Dakar.

17. Đức Giám Mục Sri Lanka nhắc nhớ về cơn sóng thần 10 năm trước

Đức Giám Mục Joseph Ponniah là Giám mục của Batticaloa, miền đông Sri Lanka, một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng bởi cơn sóng thần chết người tiếp ngay sau một trận động đất cách đây 10 năm, vào ngày 26 tháng 12 năm 2004. Hơn 250,000 người thiệt mạng khắp vùng Nam Á sau trận động đất và sóng thần được xem là một trong những thảm họa thiên nhiên lớn nhất thế giới. Sri Lanka là quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của thảm họa này chỉ sau Indonesia.

Đức Giám Mục Ponniah nhắc lại những kỷ niệm của riêng ngài về ngày định mệnh 10 năm trước đây và cho biết hơn 3,000 người trong giáo phận của ngài thiệt mạng do bị những đợt cường triều cuốn đi vào ngày sau lễ Giáng Sinh. Ngài cho biết về những nỗ lực vươn lên sau thảm họa: nhiều người trước đây sống ở các khu vực ven biển và nhà cửa bị phá hủy, nay đang sống trong những ngôi nhà mới được xây nằm sâu trong đất liền. Đức Giám Mục Ponniah lưu ý rằng mặc dù các nỗ lực tái thiết vẫn đang diễn ra, nhưng những chấn thương vẫn còn đó sau 10 năm, nhất là đối với những người mồ côi hoặc các cha mẹ mất con trong thảm họa này.

18. Mễ Tây Cơ là quốc gia nguy hiểm nhất cho các linh mục

Vào dịp lễ thánh Stephano tử đạo ngày 26 tháng 12, thông tấn xã Fides của Bộ Truyền Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc thường đưa ra con số các linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân bị thiệt mạng trên những bước đường truyền giáo trong năm.

Trong những báo cáo, Mễ Tây Cơ nổi lên là quốc gia nguy hiểm nhất cho các linh mục. Trong 24 năm qua, tức là từ năm 1990 đến năm 2014, 47 cuộc tấn công nhắm vào hàng giáo sĩ đã diễn ra gây tử vong cho 1 Hồng Y, 34 linh mục, 1 phó tế, 3 nữ tu, 5 giáo dân và 1 nhà báo Công Giáo. Tình trạng tồi tệ nhất đã xảy ra dưới thời tổng thống Enrique Peña Nieto.

Chỉ tính riêng trong năm 2014, ba linh mục đã bị sát hại. Trong một cuộc tấn công, một giáo dân đi cùng với một linh mục đã bị giết. Vị linh mục sống sót mặc dù những kẻ tấn công đã bắn nhiều phát về phía ngài. Trước đó, ngài đã thoát nạn trong một âm mưu bắt cóc không thành. Trong 12 tháng qua, hai linh mục thuộc Tổng Giáo Phận Acapulco, ở Guerrero đã bị giết. Một linh mục của giáo phận Atlacomulco, bang Mexico, cũng bị giết chết trong một vụ cướp gây ra ở nhà thờ nơi ngài thi hành mục vụ.

19. Giáng Sinh bắt đầu là ngày lễ nghỉ tại khu tự trị của người Kurd ở Iraq

Chính quyền khu tự trị của người Kurd Iraq đã tuyên bố ngày 25 tháng 12 là một ngày nghỉ chính thức để thể hiện sự đoàn kết đối với các Kitô hữu, vào ngày lễ Chúa Giáng Sinh. Trên trang Web của chính phủ cũng công bố một thông điệp chúc mừng Giáng Sinh "tất cả các Kitô hữu đang sinh sống trong vùng Kurdistan, Iraq và trên khắp thế giới" và cầu chúc một năm mới hòa bình, an ninh và ổn định.

Hôm 22 tháng 12, các linh mục Công Giáo nghi lễ Chanđê tại Erbil và vùng phụ cận - bao gồm cả các linh mục chạy loạn từ Mosul và vùng bình nguyên Ninivê - đã quây quần với Giám mục của họ trong một ngày tĩnh tâm, để chuẩn bị cho Giáng Sinh.

Đa số người Kurd theo Hồi Giáo Sunni nhưng có một lập trường ôn hòa và khoan dung tôn giáo.

Sự thật và sự dối trá quanh co

Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Ngày 2 tháng 1 BNGS

Bài đọc: I Jn 2:22-28; Jn 1:19-28.

1/ Bài đọc I: 22 Ai là kẻ dối trá, nếu không phải là kẻ chối rằng
Đức Giê-su là Đấng Ki-tô? Kẻ ấy là tên Phản Ki-tô,
là kẻ chối Chúa Cha và Chúa Con.
23 Ai chối Chúa Con thì cũng không có Chúa Cha;
kẻ tuyên xưng Chúa Con thì cũng có Chúa Cha.
24 Phần anh em, ước chi điều anh em đã nghe từ lúc khởi đầu
ở lại trong anh em. Nếu điều anh em đã nghe từ lúc khởi đầu
ở lại trong anh em, thì chính anh em sẽ ở lại trong Chúa Con và Chúa Cha.
25 Và đây là điều mà chính Đức Ki-tô đã hứa ban cho chúng ta: sự sống đời đời.
26 Tôi viết cho anh em những điều ấy để nói về những kẻ tìm cách
làm cho anh em đi lạc đường.
27 Phần anh em, dầu mà anh em đã lãnh nhận từ Đức Ki-tô
ở lại trong anh em, và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa.
Nhưng vì dầu của Người dạy dỗ anh em mọi sự
-mà dầu ấy dạy sự thật chứ không phải sự dối trá-,
thì theo như dầu ấy đã dạy anh em, anh em hãy ở lại trong Người.
28 Giờ đây, hỡi anh em là những người con bé nhỏ, anh em hãy ở lại trong Người, để khi Người xuất hiện, chúng ta được mạnh dạn, chứ không bị xấu hổ, vì phải xa cách Người trong ngày Người quang lâm.

2/ Phúc Âm: 19 Và đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông: "Ông là ai? "
20 Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: "Tôi không phải là Đấng Ki-tô."
21 Họ lại hỏi ông: "Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Ê-li-a không? " Ông nói: "Không phải." - "Ông có phải là vị ngôn sứ chăng? " Ông đáp: "Không."
22 Họ liền nói với ông: "Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông? "
23 Ông nói: Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.
24 Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu.
25 Họ hỏi ông: "Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông Ê-li-a hay vị ngôn sứ? "
26 Ông Gio-an trả lời: "Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết.
27 Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người."
28 Các việc đó đã xảy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa.


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự thật và sự dối trá quanh co

Trong xã hội, rất khó cho chúng ta để nhận biết bản chất đích thực của một người qua việc đối thọai. Khi phải nói về mình, con người thường có những khuynh hướng như: mạo nhận danh nghĩa người khác; giả vờ như mình có để người khác phải thán phục mình; khuếch đại: có ít nói nhiều; nói quanh co để người khác khỏi nhận ra con người thực của mình. Khi phải tìm hiểu cá nhân đó qua người khác, người khác thường có khuynh hướng: cắt bớt những công trạng và các đức tính tốt để họ đừng nổi bật quá; thêm những nhận xét của mình để dìm bớt những điều tốt; gán cho họ những tật xấu mà họ không có; hay vơ vào những thói xấu của gia đình họ.
Các Bài Đọc hôm nay dạy chúng ta phải biết sống thực với con người của mình. Trong Bài đọc I, Thánh Gioan đưa ra lý do tại sao chúng ta phải sống thực là vì chúng ta đã lãnh nhận dầu Thánh Thần qua Bí-tích Rửa Tội. Thánh Thần giúp chúng ta sống thực, và giúp nhận ra những sự giả trá trong thế gian. Trong Phúc Âm, Gioan Tẩy Giả cho chúng ta một mẫu gương phải sống thực qua cách trả lời cho những người đến điều tra: ngắn gọn: có hoặc không; trực tiếp: không dài giòng quanh co; đơn giản: không dùng những lời nhiều nghĩa; chính xác: những gì mình là, không phải những gì người khác gọi, hay khen mình. Khi phải so sánh mình với Chúa Giêsu, Gioan Tẩy Giả đã khiêm nhường nhìn nhận: “Tôi tuy đến trước, nhưng tôi không xứng đáng để cởi quai dép cho Ngài.”

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Kitô Giáo và các tôn giáo khác

1.1/ Phản-Kitô là người không tin Đức Kitô: Nhiều tôn giáo thờ một Thiên Chúa; chẳng hạn, Do-Thái Giáo, Hồi Giáo, nhưng Kitô Giáo thờ Thiên Chúa và Đức Kitô.
(1) Các lạc giáo: Ngay từ thời Thánh Gioan, khi Kitô Giáo bành trướng vào thế giới, có nhiều những lạc giáo từ chối không tin thiên tính (Do-Thái Giáo) hay nhân tính của Đức Kitô (Chủ-nghĩa thuần Tri-thức). Thánh Gioan đề phòng các tín hữu của ngài các lạc giáo này: “Ai là kẻ dối trá, nếu không phải là kẻ chối rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô? Kẻ ấy là tên Phản-Kitô, là kẻ chối Chúa Cha và Chúa Con.”
(2) Mối liên hệ giữa Thiên Chúa và Đức Kitô: Đối phương của Gioan có thể thuyết phục ngài: “Tuy khác biệt, nhưng chúng ta cùng tin Một Thiên Chúa.” Thánh Gioan thẳng thắn nói lên niềm tin của ngài: “Ai chối Chúa Con thì cũng không có Chúa Cha; kẻ tuyên xưng Chúa Con thì cũng có Chúa Cha.” Theo ngài, có một sự liên hệ chặt chẽ giữa Chúa Cha và Chúa Con:
- Chúa Giêsu mặc khải cho con người biết về Chúa Cha, và nếu Ngài không mặc khải, con người không thể biết Chúa Cha: “Không ai biết Con trừ ra Cha; và cũng không ai biết Cha trừ ra Con và những người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11:27, Lk 10:22).
- Tin Con là tin Cha (Jn 12:44-45); từ chối Con sẽ bị Cha từ chối (Mt 10, 32-33).
- Nhìn thấy Con là nhìn thấy Cha (Jn 14 :6-9).

1.2/ Hai tiêu chuẩn để nhận ra sự thật: Để chống lại những lạc giáo, Thánh Gioan đưa ra 2 tiêu chuẩn để giúp các tín hữu nhận ra sự thật phải theo và sự dối trá phải tránh: tiêu chuẩn bên ngòai là những Giáo Huấn của Giáo Hội; và tiêu chuẩn bên trong là sự soi sáng của Chúa Thánh Thần.
(1) Điều anh em đã nghe từ lúc khởi đầu: Ngài nói: “Phần anh em, ước chi điều anh em đã nghe từ lúc khởi đầu ở lại trong anh em. Nếu điều anh em đã nghe từ lúc khởi đầu ở lại trong anh em, thì chính anh em sẽ ở lại trong Chúa Con và Chúa Cha. Và đây là điều mà chính Đức Kitô đã hứa ban cho chúng ta: sự sống đời đời.” Điều nghe từ đầu đây có lẽ là những dạy dỗ về đạo, trước khi một người được lãnh nhận Bí-tích Rửa Tội.

(2) Sự soi sáng của Chúa Thánh Thần: Khi một người được chịu Phép Rửa nhân danh Đức Kitô, người ấy được xức dầu của Thánh Thần; và được phong chức làm tư tế, tiên tri, và vương đế. Thánh Gioan quả quyết: “Phần anh em, dầu mà anh em đã lãnh nhận từ Đức Kitô ở lại trong anh em, và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa; nhưng dầu của Người dạy dỗ anh em mọi sự - mà dầu ấy dạy sự thật chứ không phải sự dối trá - thì theo như dầu ấy đã dạy anh em, anh em hãy ở lại trong Người.” Trong khi chủ thuyết “Thuần Tri-thức” cho rằng chỉ có họ mới biết cách giải thóat con người ra khỏi vật chất để kết hợp với Thiên Chúa; Thánh Gioan dạy các tín hữu: một khi đã có Thánh Thần của Thiên Chúa, Thần Sự Thật, trong người, các tín hữu chẳng cần phải được dạy dỗ bởi ai khác nữa.

2/ Phúc Âm: Lời chứng của Gioan

2.1/ Những gì Gioan không là: Và đây là lời chứng của ông Gioan, khi người Do-Thái từ Jerusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi ông: "Ông là ai?" Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: "Tôi không phải là Đấng Kitô." Họ lại hỏi ông: "Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Êlijah không? " Ông nói: "Không phải." "Ông có phải là vị ngôn sứ chăng? " Ông đáp: "Không." Sở dĩ Gioan Tẩy Giả trả lời như thế là vì ông không quan tâm đến những điều người khác nói về ông, mà ông chỉ quan tâm đến những gì ông thực sự là. Nhiều người đã coi Gioan Tẩy Giả như một Tiên-tri, và chính Chúa Giêsu đã gọi ông là một Tiên-tri quan trọng hơn hết các tiên-tri.

2.2/ Điều Gioan Tẩy Giả là: Họ liền nói với ông: "Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông?" Ông nói: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ Isaiah đã nói.” Một khi Gioan nhận ra sứ vụ Thiên Chúa trao cho trong cuộc đời, ông dành mọi thời gian, và nỗ lực để chu tòan sứ vụ của mình.
Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pharisees. Họ hỏi ông: "Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Kitô, cũng không phải là ông Êlijah hay vị ngôn sứ?" Ông Gioan trả lời: "Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người." Chỗ khác, Gioan phân biệt hai Phép Rửa: ông làm Phép Rửa để tha tội, nhưng Đức Kitô làm Phép Rửa để ban Chúa Thánh Thần.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta cần biết mình, biết Thiên Chúa, và biết tha nhân.
- Chúng ta đừng bao giờ mạo nhận những gì chúng ta không có, cũng đừng bao giờ đánh cắp công ơn của người khác; nhưng phải biết nói, sống, và làm chứng cho sự thật. 
- Chúng ta phải đề phòng những kẻ Phản-Kitô và những người không sống xứng đáng với danh hiệu “Kitô hữu” của mình.



Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Maria Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của con



NGÀY MỒNG 1 THÁNG GIÊNG

Đức Maria Là Mẹ Thiên Chúa
Lc 2,16-21


"Họ liền hối hả ra đi.

Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse,
cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ."
(Lc 2,16)


Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và qua tông đồ Gioan, cũng là Mẹ của nhân loại, của chính con. Qua Mẹ, ơn cứu độ của Thiên Chúa đã đến cùng nhân loại. Xin ban cho muôn dân nước biết mở lòng đón nhận Chúa Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa thật, Đấng cứu độ trần gian. Amen.



Lời chúc lành tốt đẹp nhất của Năm Mới.

Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP


Ngày 1 tháng 1, Lễ Mẹ Thiên Chúa, Năm ABC

Bài đọc: Num 6:22-27; Gal 4:4-7; Lk 2:16-21.

1/ Bài đọc I: 22 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê:
23 "Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này:
24 "Nguyện ĐỨC CHÚA chúc lành và gìn giữ anh (em)!
25 Nguyện ĐỨC CHÚA tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh (em)!
26 Nguyện ĐỨC CHÚA ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh (em)!
27 Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng."

2/ Bài đọc II: 4 Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật,
5 để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.
6 Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: "Áp-ba, Cha ơi! "
7 Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.

3/ Phúc Âm: 16 Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.
17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.
18 Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.
19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.
20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
21 Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Lời chúc lành tốt đẹp nhất của Năm Mới.

Trong Ngày Đầu Năm, chúng ta có thói quen chúc cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất, tùy vào những gì mà người khác muốn nghe; chẳng hạn, đối với các thương gia: phú quí, thịnh đạt; đối với các sinh viên sắp ra trường: thành công và thắng lợi trên đường công danh; đối với nhà nông: mùa màng trù phú; đối với người bệnh: sức khỏe lành mạnh. Nhưng đâu là lời chúc tốt đẹp và hòan hảo nhất của Ngày Đầu Năm? Các tín hữu tin đó là lời chúc có được Thiên Chúa; lý do của niềm tin này: có Chúa là có tất cả. Hơn nữa, chưa chắc có được những gì người khác chúc là đã tốt lành, chẳng hạn như được trúng số mà gia đình tan nát; nhưng nếu được những gì Thiên Chúa ban, chắc chắn sẽ tốt lành cho người lãnh nhận, vì Ngài biết con người cần gì.

Các Bài đọc của Ngày Đầu Năm tập trung trong các ơn lành đến từ Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, Thiên Chúa dạy cho Aaron biết cách chúc lành cho con cái Israel: phải nhân danh Thiên Chúa, phải xin Thiên Chúa tươi mặt nhìn đến và dủ lòng thương, phải xin Thiên Chúa ghé mắt nhìn đến và ban bình an. Trong Bài Đọc II, Thiên Chúa đã tỏ tình yêu của Ngài qua Mầu Nhiệm Nhập Thể: Ngài không những giải thóat con người khỏi tội, ban cho con người diễm phúc được làm nghĩa tử, và còn ban Thánh Thần để thúc đẩy con người gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi! Trong Phúc Âm, Thiên Chúa đã ban cho con người, đại diện qua Thánh Giuse, Đức Mẹ Maria, và các Mục-đồng được nhìn thấy Mặt của Thiên Chúa. Vì thế, khi con người có được Thiên Chúa, được Ngài đóai thương nhìn tới, con người sẽ không còn thiếu một ân huệ nào nữa.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Lời chúc tốt đẹp nhất: Xin Thiên Chúa đóai thương nhìn tới anh em!

1.1/ Phải nhân danh Thiên Chúa mà chúc lành: Đức Chúa phán với ông Moses: "Hãy nói với Aaron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Israel, anh em hãy nói thế này: "Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em!””
Theo truyền thống Do-Thái, tên là người. Danh của Thiên Chúa, Yaweh, đồng nhất với lòng thương xót, sự tốt lành, và sự bình an. Khi Thiên Chúa hiện ra với ông Moses, Người đã mặc khải tên này cho Moses. Khi chúng ta lấy tên ai để kêu cầu, chúng ta muốn đặt những lời cầu xin dưới sự bảo trợ của người đó; chẳng hạn, khi chúng ta kết thúc lời cầu xin bằng câu: “chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen;” là chúng ta đặt lời cầu dưới sự bảo trợ của Đức Kitô. Trong đọan văn hôm nay, Thiên Chúa cũng bảo đảm điều này: “Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng.”

1.2/ Xin Thiên Chúa ghé mặt nhìn tới: “Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!" Truyền thống Do-Thái tin: Chúa nhìn thấy con người, nhưng con người không thể nhìn thấy Thiên Chúa. Ai nhìn thấy Thiên Chúa sẽ phải chết. Khi Chúa nhìn đến ai, người đó được Ngài chúc lành; ví dụ, Mẹ Maria ca ngợi Thiên Chúa: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đóai thương nhìn tới.” Ngược lại, khi Thiên Chúa ngỏanh mặt đi, hay nhìn đến với nét mặt không tươi, người đó bị chúc dữ.

2/ Bài đọc II: Chúa Giêsu làm cho con người nên công chính trước mặt Thiên Chúa.

2.1/ Thiên Chúa cho Con của Người nhập thể để cứu chúng ta khỏi Lề Luật: “Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.”
Tại sao phải cứu con người thóat khỏi Lề Luật? Vì Lề Luật mà con người phạm tội, không chu tòan những gì Lề Luật dạy. Hậu quả của tội là sự chết. Con người không thể nên công chính trước mặt Thiên Chúa bằng Lề Luật. Để cứu con người thóat khỏi sự chết, hậu quả của Lề Luật, Thiên Chúa đã cho Người Con nhập thể trong cung lòng một con người, Đức Mẹ Maria, để sinh ra làm người. Chính Người Con này sẽ gánh tất cả tội cho con người; vì thế, con người có thể trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa. Khi Người Con cất đi mọi tội, Ngài đã vô hiệu hóa Lề Luật - làm cho Lề Luật không còn giam hãm con người nữa.

2.2/ Thiên Chúa nhận chúng ta làm nghĩa tử qua Chúa Giêsu: Không những chỉ giải phóng con người khỏi tội, Chúa Giêsu còn ban cho con người muôn vàn ân phúc qua Mầu Nhiệm Nhập Thể. Thánh Phaolô nói: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: "Abba, Cha ơi!" Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.”
(1) Ơn làm con Thiên Chúa: Nhờ Chúa Giêsu, con người trở thành những người con của Thiên Chúa bằng niềm tin vào Đức Kitô, như Thánh Gioan nói: “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Jn 1:12-13). Đã là con, cũng là người thừa kế. Con người được thừa hưởng tất cả những gì Thiên Chúa ban qua Đức Kitô, nhất là ơn được sống đời đời.
(2) Các ơn của Chúa Thánh Thần: Để có thể tin vào Đức Kitô, và gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi! con người phải được Chúa Thánh Thần tác động. Nếu đã có Thánh Thần, con người sẽ không thiếu những ơn lành của Ngài, cách cụ thể là 7 ơn của Chúa Thánh Thần.

3/ Phúc Âm: Các Mục-đồng đến thờ lạy Hài Nhi.

3.1/ Ba phản ứng của các Mục-đồng: Sau khi được các Thiên-thần loan báo Tin Mừng, các Mục đồng đã đáp lại bằng 3 phản ứng:
(1) Họ đi tìm và đã thấy: Trình thuật kể: “Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp Bà Maria, Ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.” Con người chúng ta cũng phải hối hả và nhiệt thành như các Mục-đồng trong việc tìm kiếm Thiên Chúa; vì nếu không lên đường đi tìm, làm sao chúng ta có thể thấy Ngài được. Yếu điểm của nhiều người chúng ta là nhiệt thành tìm kiếm mọi điều, nhưng không nhiệt thành trong việc tìm kiếm và học hỏi về Thiên Chúa. Với một thái độ như thế, không lạ gì khi chúng ta vẫn còn xa cách Thiên Chúa vạn dặm!
(2) Họ tôn vinh ca tụng tình yêu Thiên Chúa: “Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.” Không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui của người đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa. Các Mục-đồng chắc chắn đã được Hài Nhi cho cảm nghiệm được tình yêu này, khi họ chiêm ngắm Ngài. Chúng ta đã cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa khi chiêm ngắm Hài Nhi trong máng cỏ chưa?
(3) Phải rao giảng và làm chứng cho tình yêu này: “Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.” Một khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa, con người trở thành khí cụ ca rao tình yêu của Thiên Chúa cho muôn người. Thánh Phanxicô Khó Khăn chỉ có thể hát lên “Kinh Hòa Bình” sau khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho ngài. Nếu các tín hữu đều phản ứng như các Mục-đồng hôm nay, chẳng mấy chốc mọi con người trong thế giới này sẽ cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.

3.2/ Mẹ Maria ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy để suy đi nghĩ lại trong lòng: Một gương sáng Đức Mẹ dạy cho con người: đứng trước Mầu Nhiệm Nhập Thể, chúng ta đừng nói nhiều, nhưng hãy ghi nhận mọi sự kiện xảy ra và suy niệm trong lòng. Như một con người, có rất nhiều điều Mẹ có thể hỏi và kêu ca trách Thiên Chúa trong ngày sinh của Chúa Giêsu; chẳng hạn: Con Thiên Chúa mà lại sinh ra trong cảnh khó nghèo như vậy sao? Uy quyền của Thiên Chúa đâu mà để cho Con Ngài mới sinh ra đã phải chạy nạn rồi? Không phải chỉ lúc sinh con, nhưng trong suốt cả cuộc đời, Mẹ đã chứng kiến cuộc sống của Chúa Giêsu: khi thì rất uy quyền làm các phép lạ như tại tiệc cưới Cana, khi thì cô đơn bại trận như lúc sinh thì trên Thánh Giá. Mẹ có thể hỏi Thiên Chúa những lý do tại sao, nhưng Mẹ đã chọn sự thinh lặng và hòan tòan tin tưởng vào Kế Họach và tình yêu của Thiên Chúa cho gia đình Mẹ.

3.3/ Đặt tên cho con trẻ là Jesus: Tên Jesus trong tiếng Do-Thái có nghĩa là “Jaweh cứu thóat,” đó là tên mà Sứ-thần đã truyền đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ (Lk 1:31). Trong Cựu-Ước, cũng có một nhân vật mang tên này là Thủ Lãnh Joshua. Ông được chọn để thay Moses mang dân vào Đất Hứa (Num 13:6). Giống như Joshua, Chúa Giêsu cũng được Chúa Cha tuyển chọn để cứu nhân lọai khỏi tội, và mang họ đế cuộc sống đời đời trên Thiên Đàng. Khi ban cho chúng ta Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã sống đúng với Danh của Ngài là Thiên Chúa Thương Xót.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Trong Ngày Đầu Năm, chúng ta hãy dùng danh Đức Kitô mà chúc cho nhau được Thiên Chúa đóai thương nhìn tới.
- Vì Thiên Chúa đóai thương, nên Người ban cho chúng ta Người Con Một của Ngài, để gánh tội và để cho chúng ta thành những người con của Ngài.
- Thuở xưa, con người không được phép nhìn mặt Thiên Chúa; nhưng qua Biến Cố Nhập Thể, con người có thể chiêm ngưỡng dung nhan Thiên Chúa qua khuôn mặt của Chúa Hài Nhi.
- Với nền kinh tế bấp bênh của thế giới và của quốc gia chúng ta đang định cư, chúng ta không biết tương lai sẽ thế nào; nhưng chúng ta biết chắc chắn một điều: “những người được Thiên Chúa đóai thương, sẽ chẳng thiếu chi những điều tốt lành và bình an.”
- Cầu chúc quí khán giả khắp nơi luôn hăng hái nhiệt thành trong việc học hỏi Lời Chúa, và luôn sống trong tình yêu và ơn thánh của Ngài. Chúng con cầu xin nhờ Danh Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.



Chia sẻ của Lm Lê minh Thông

Đoạn Tin Mừng Lc 2,6b-20 vẽ lên ba bức tranh chính: (1) Đức Ma-ri-a hạ sinh Đức Giê-su ở Bê-lem. (2) Chuyện những người chăn chiên được báo tin và tìm đến gặp Hài Nhi. (3) Lời ca ngợi Thiên Chúa của các sứ thần.
Xin chia sẻ câu chuyện về những người chăn chiên trong bức tranh thứ hai, liên quan đến các động từ “nghe”, “thấy”, “nói” và “tôn vinh Thiên Chúa”. Có thể hành trình của những người chăn chiên cũng là hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su qua mọi thời đại.
Bức tranh về nhân vật những người chăn chiên thật sinh động. Sứ điệp mà sứ thần dành cho những người chăn chiên là audio-visuel, nghĩa là vừa nghe bằng tai vừa thấy bằng mắt.
Trước hết những người chăn chiên thấy sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả, khiến họ kinh khiếp hãi hùng (2,9). Kế đến là họ nghe lời sứ thần với hai ý. Một là báo tin vui: Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít. Thứ đến là dấu chỉ để nhận ra Hài Nhi: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (2,12). Như thế, lời loan báo của sứ thần không phải chỉ để nghe cho biết, nhưng là một sứ điệp có khả năng biến “sợ hãi” thành “niềm vui”, có khả năng biến “lời nói” thành “hành động”: đứng dậy và lên đường.
Đáp trả lời mời gọi, những người chăn chiên bảo nhau: “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (2,15). Họ đã “gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (2,16) như lời sứ thần loan báo. Nhờ kiểm chứng “lời đã nghe” bằng “mắt” đã thấy”, những người chăn chiên xác tín sự kiện đã xảy ra, từ đó trình thuật chuyển sang đề tài đối thoại với ba khía cạnh:
1) Đối thoại với người khác. Những người chăn chiên đã kể lại những điều họ đã nghe sứ thần Chúa nói với mình về Hài Nhi.
2) Đối thoại với chính mình qua hình ảnh Đức Ma-ri-a hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Tự đối thoại với chính mình bằng cách sống với biến cố, tự đặt câu hỏi và tìm câu trả lời để hiểu ý nghĩa của biến cố.
3) Đối thoại với Thiên Chúa bằng cách “tôn vinh và ca tụng” (2,20) như những người chăn chiên đã làm.
Câu kết cho thấy điểm nhấn của câu chuyện: “Các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (2,20). Nhắc lại những gì đã thấy và lời loan báo để kết câu chuyện, làm lộ ra ý nghĩa trình thuật nhắm tới:
Thấy vinh quang Chúa, nghe tin vui và dấu chỉ của sứ thần, vội vã lên đường; khi đã gặp thì kể cho mọi người biết và rồi lại ra đi tôn vinh Thiên Chúa.
Đó là hành trình của người tin, hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su. Nghe, biết, đón nhận, tin vào Người để rồi ra đi chia sẻ cho người khác và không ngừng ca tụng tình thương của Thiên Chúa dành cho loài người.
Người chăn chiên là hạng người thấp nhất trong xã hội, nhưng họ lại là người được loan báo tin vui trước hết. Không những Thiên Chúa không loại trừ một ai mà Người còn dành ưu ái cho hạng người thấp nhất trong xã hội. Vì thế, chúng ta đừng bao giờ thất vọng về chính mình hay nghĩ là Chúa bỏ rơi mình. Thực ra, chỉ có con người bỏ rơi Thiên Chúa chứ Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người.
Đoạn Tin Mừng Lc 2,6b-20 gợi lại hành trình trở thành người môn đệ và hành trình sứ vụ của chúng ta. Xin cho chúng ta biết cách nhìn để thấy những gì đã và đang xảy ra trong lịch sử; biết cách lắng nghe Lời mặc khải để đón nhận tin vui trọng đại cho loài người, để từ đó xác tín và lên đường, hân hoan loan báo tin vui và cất lời ca tụng Thiên Chúa như những người chăn chiên đã làm. Để được như thế, ước gì chúng ta luôn suy đi nghĩ lại trong lòng giáo huấn của Đức Giê-su trong suốt hành trình làm người, như Mẹ đã làm.